Trợ giúp - Tìm kiếm - Thành viên - Lịch ghi nhớ
Phiên bản đầy đủ: Hoành phi - Câu đối cổ Việt Nam
Diễn đàn Thư Họa Việt Nam > Thư Họa nước nhà > Thư pháp cổ điển > Hoành phi câu đối
Trang: 1, 2
Thiên Hỏa
Nam thiên Thánh mẫu (Bảo Đại 19)

Nam Long


Bảo Đại thập nhất niên xuân
Hùng triều Bắc khấu phạm biên thuỳ,
Đỉnh xuất Thiên vương dực quốc ky.
Vũ bộ uy dương đằng thiết mã,
Sóc sơn thần hoá giải nhung y.
Tung hoành trúc ảnh lăng thiên động,
Phức úc trầm hương mãn địa phi.
Nhất phiến đan tâm trung thị hiếu,
Huân danh trường ký vạn niên bi.
Quang lộc tự thiếu khanh Nguyễn Văn Tiến bái đề



Đời Hùng quân Bắc quấy ngoài biên,
Nhờ đức Thiên vương giữ nước yên.
Ngựa sắt thét vang tan giặc mạnh,
Áo nhung cởi lại hoá thân liền.
Dọc ngang khóm trúc lưng trời nắm,
Hiển hiện cây trầm mặt đất lên.
Một tấm lòng son trung ấy hiếu,
Ngàn năm non Vệ đá bia truyền.
Xuân Như
Ngộ sự năng đoán




Hoành phi cổ kiếm được trên mạng nhưng không biết ở đâu . Chữ Hành viết khỏe khắn, khí lực, cân quắc. Đẹp
Minh Thành
Một bạn bên diễn đàn tiếng Trung hỏi về bức hoành phi tại gia đình, nhân thấy chữ viết đẹp, rắn rỏi, đoan chính, nên đưa lên góp vui cùng các thày:



VIỄN ĐIỀU PHỒN DIỄN

Bốn chữ này lấy từ bài Tiêu Liêu trong Đường Phong - Kinh Thi.

Nguyên văn:

椒聊之实,蕃衍盈升。
彼其之子,硕大无朋。
椒聊且,远条且。

椒聊之实,蕃衍盈匊。
彼其之子,硕大且笃。
椒聊且,远条且。


Tiêu liêu chi thực; Phồn diễn doanh thăng;
Bỉ kỳ chi tử; Thạc đại vô bằng.
Tiêu liêu thư; Viễn điều thư.

Tiêu liêu chi thực; Phồn diễn doanh cúc;
Bỉ kỳ chi tử; Thạc đại thả đốc.
Tiêu liêu thư; Viễn điều thư.


Bài thơ nói cây Tiêu liêu cành dài thân lớn nên quả hạt nhiều (đầy đấu, đầy tay)

Phồn diễn: tức phồn thịnh, đông đúc. Viễn điều: chỉ cành dài nhánh dài. Câu hoành phi có ý nói: Dòng họ lâu đời, con cháu phồn thịnh.
Minh Thành
Hai chữ đại tự "Trung Hiếu" trong phòng làm việc của Phạm Quỳnh (không đọc rõ tên người viết, ai có thể thấy rõ hơn, xin bổ sung)



Phạm Quỳnh nguyên là Đổng lý Ngự tiền Văn Phòng, sau đó Thượng thư bộ Học rồi bộ Lại trong Cơ Mật Viện của triều Bảo Đại cho đến khi Nhật đảo chánh Pháp tháng 3/1945. Phạm Quỳnh sinh năm 1892 tại Hà Nội nhưng quê quán là người làng Thượng Hồng, xã Lương Ngọc, phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương. Ông là cha của 16 người con, trong đó có những ngườì nổi tiếng mà chúng ta đã biết như nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê, tiến sĩ văn chương Phạm thị Ngoạn 1..


Xuất thân từ một gia đình Nho giáo, ông Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Thông Ngôn Hà Nội (trường Bưởi) rồi làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ. Tại đây ông đọc được nhiều sách, trau dồi thêm Hán tự và viết bài cho Đông Dương Tạp Chí do Nguyễn văn Vĩnh làm chủ bút. Ông có bút hiệu là Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân (người làng Thượng Hồng). Ông từng được Giải thưởng Văn chương Viện Hàn Lâm Pháp (Lauréat de L’Académie Française). Hai năm trước khi Đông Dương Tạp Chí bị đóng cửa (1919), ông đã cùng Louis Marty, Chủ sự Tổng cục An ninh Pháp tại Đông Dương và Nguyễn Bá Trác lập tờ báo riêng và làm chủ bút: Tạp chí Nam Phong.

Bức ảnh trên chụp hình ông trong phòng làm việc tại văn phòng, ảnh hiện lưu tại chùa Vạn Phước - Huế.



Đây là bức hoành phi "Thổ Nạp Âu Á" 吐 納 歐 亞 hiện để ở nhà học của tăng sinh chùa Vạn Phước, Huế, là thủ bút của Phạm Quỳnh. Có tư liệu cho rằng có một hoành phi tương tự hiện tại nhà của người con trai út là nhạc sĩ Phạm Tuyên.

(st)
Nam Long
QUOTE(trích dẫn)(Minh Thành @ Dec 9 2008, 09:51 AM) *
Hai chữ đại tự "Trung Hiếu" trong phòng làm việc của Phạm Quỳnh (không đọc rõ tên người viết, ai có thể thấy rõ hơn, xin bổ sung)



......................................

Bức ảnh trên chụp hình ông trong phòng làm việc tại văn phòng, ảnh hiện lưu tại chùa Vạn Phước - Huế.



Đây là bức hoành phi "Thổ Nạp Âu Á" 吐 納 歐 亞 hiện để ở nhà học của tăng sinh chùa Vạn Phước, Huế, là thủ bút của Phạm Quỳnh. ...


Bức trung đường thấy mỗi chữ ".... Sĩ thư" chẳng rõ là ông nào. Còn hoành phi tôi không chắc Phạm Quỳnh có thể viết được như thế không?
Nam Long

Tích thụ kim hoa


Nguồn: Blog của Tân Nguyệt nữ sĩ
Thiên Hỏa
một cái "Tích thụ kim hoa" khác
Thiên Hỏa
NAM QUỐC THIỆU BÁ (Chữ 召 thường được chúng ta biết đến với âm là Triệu nghĩa là dùng lời mà vời đến, nhưng ở đây âm đọc là Thiệu, với nghĩa tên đất, họ Thiệu. Thiệu Bá: Tên người (Tên thật là Thiệu Công Thích, con thứ của Chu Vãn Vương. Ông cùng với Chu Công Ðán là hai bề tôi có công lao cai trị đất nước thời Chu Vũ Vương). Trong Cam Đường 甘棠 - Kinh Thi có đoạn:

蔽芾甘棠,
勿翦勿伐,
召伯所茇。

Phiên âm:

Tế phế cam đường
Vật tiễn vật phạt.
Thiệu Bá sở bạt.

Dịch:

Cam đường xanh tốt um tùm
Chớ đem chặt bỏ cho dùm ai ơi
Chỗ ông Thiệu Bá từng ngồi!............

Điển: Ông Thiệu Bá đi khắp nước phương nam để truyền bá việc đức chính của Văn Vương, có khi ở dưới cây cam đường. Về sau, người ta nhớ đến công đức của Thiệu Bá, thương mến cây cam đường ấy mà không nỡ làm cho nó bị thương tổn.

Như vậy hoành này có thể hiểu là:

- Ông Thiệu Bá đất Nam (Sánh với Thiệu Công thời Chu).
- Nhắc đến công đức thay đế trị dân tại Nam phương của Thiệu Công, qua đó tỏ ý khen ngợi.

Có mấy lời trao đổi, thân ái cùng Dungsino,

TB:Nếu ai có thắc mắc gì về lạc khoản thì hỏi Hoàng Công Cao Khải hay ông Thành Thái nhé!

THANHHAN!
Thiên Hỏa
tiên sư Hạnh nhảm trốn kỹ thế
Thiên Hỏa
Liệu nhân tật khổ
Thiên Hỏa
các bác đọc cái hoành này như thế nào?
Thiên Hỏa
thiền thiên khải thánh (trời thiền sinh thánh) [thánh Từ Đạo Hạnh]
chùa Láng
Xuân Như
QUOTE(trích dẫn)(Thiên Hỏa @ Mar 9 2009, 08:45 PM) *
thiền thiên khải thánh (trời thiền sinh thánh) [thánh Từ Đạo Hạnh]
chùa Láng


Hoành phi nằm ngay cổng lớn đi vào chùa Láng:

Xuân Như
Ở một làng nghề. Kính các cụ xem ở đâu !

Nho y thế hưng - một thời vàng son xưa cũ



và nay chỉ còn biết hoài niệm

Xuân Như
Cái này chỉ còn 1 vế, có cụ nào biết vế còn lại, ở đâu, thế nào xin cho biết

Xuân Như
Hoành phi Ở miếu thờ Vũ Hồn, Thành hoàng và đình làng Mộ Trạch (Hải Dương)

Vạn thế trạch và Thủy tổ linh từ



Nguồn: http://langmotrach.sky.vn
Xuân Như
Bài 1: Phát hiện câu đối Lưỡng triều danh tể tướng…


(TT&VH) - Tháng 12/2005, trong lần về Tiên Điền – Hà Tĩnh tự “Lễ kỷ niệm 240 năm, năm sinh đại thi hào Nguyễn Du”, biết tôi là người Bắc Ninh, các cụ địa phương đã ngâm cho tôi nghe đôi câu thơ - đối cổ: “Trai Tiên Điền - tinh anh Hồng Lĩnh, Gái Kinh Bắc - thanh sắc Tiêu Tương”, và tặng tôi cuốn Hoan Châu - Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả. “Cảo thơm lần giở” cuốn thế phả của gia tộc đại thi hào Nguyễn Du, tôi như được lãng du về miền cổ tích và những trang tình sử thơ mộng.

Từ một cuốn gia phả về dòng họ Nguyễn Du


Câu đối “Lưỡng triều danh Tể tướng/Nhất thế đại Nho sư”


Cụ tổ 9 đời của đại thi hào Nguyễn Du là Trạng nguyên Nguyễn Thuyến (đỗ năm 1532) vốn quê ở xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam nay thuộc Hà Nội, có người cháu nội là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, thời Lê Trung hưng có dự mưu phục lại nhà Mạc, bị thua trận chạy về phương Nam, giấu hẳn tông tích, đến sinh cơ lập nghiệp tại Tiên Điền, trở thành người khai sáng ra dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Đến đời thứ 6 thì dòng họ này đã nổi tiếng với Tiến sĩ khai khoa Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp năm 1731 lúc mới 24 tuổi và Nguyễn Huệ (anh ruột Nguyễn Nghiễm) đỗ Tiến sĩ năm 1733.

Cụ Nguyễn Nghiễm làm quan thời vua Lê - chúa Trịnh lên tới chức Tể tướng - Đại tư đồ, tước Xuân quận công, có con trai trưởng là Tiến sĩ Nguyễn Khản sau này nối nghiệp cha cũng tới chức Nhập thị Tham tụng (Tể tướng ở phủ chúa) và Tả tư giảng (dạy Thế tử học), Tế tửu Quốc tử giám. Quan Tể tướng Nguyễn Nghiễm giỏi ca trù, hát xướng ra Thăng Long nhận chức đã say mê ngay giọng ca Quan họ của các liền chị vùng Kinh Bắc nên cưới thêm bà ba Trần Thị Tần quê Hoa Thiều – Hương Mạc - Từ Sơn, sinh ra đại thi hào Nguyễn Du, bà tư Nguyễn Thị Xuyên quê Hoàng Mai, Yên Dũng, Kinh Bắc sinh ra Nguyễn Quýnh.

Nhưng thông tin đáng lưu ý nhất mà cuốn gia phả cung cấp, giục giã bước chân tôi đi điền dã để sưu khảo là về bà vợ thứ 5 và người con trai thứ 5 của cụ Tể tướng: “Nguyễn Trừ (1760 - 1809 - anh trai thứ 5 của Nguyễn Du) con bà trắc thất Nguyễn Thị Xuân, người xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh và vẫn lưu ở quê mẹ. Năm 1779 đỗ Tứ trường, thời Chiêu Thống được bổ Tri phủ Tam Đới. Năm đầu Gia Long được bổ Tri huyện Siêu Loại, thăng Tri phủ Kinh Môn, đổi làm Tri phủ Nam Sách. Năm Gia Long thứ 8-1809, ông mắc bệnh và mất ở đấy, thọ 50 tuổi, đem về táng ở Tiêu Sơn (quê mẹ), có con là Nguyễn Trù làm Tri phủ Vĩnh Tường, con gái là Thị Uyên xinh đẹp lại giỏi nghề thuốc được tuyển vào làm Cung tần của vua Gia Long, rất được yêu quý”.

Tìm về Tiêu Sơn chiêm ngưỡng các di vật vang bóng một thời:

Núi Tiêu Sơn với ngôi nhà cổ Thiên Tâm tự là nơi thiền sư Vạn Hạnh (người tạo dựng nên cơ nghiệp nhà Lý) đã trụ trì và bà Phạm Thị Ngà thân mẫu vua Lý Thái Tổ cũng từng làm vãi thủ hộ ở chùa này. Những vết tích của dòng Tương Giang vẫn còn hàng dãy dài ao sen nước trong mát như văng vẳng tiếng hát chàng Trương Chi làm say đắm nàng Mỵ Nương. Vậy là xã Tiêu Sơn xưa thuộc Yên Phong, nay chính là xã Tương Giang, thuộc Từ Sơn. Nhưng hỏi thăm về cụ bà Nguyễn Thị Xuân lấy chồng Hà Tĩnh sinh ra Nguyễn Trừ (anh ruột Nguyễn Du) thì các cụ cao niên cũng không có ai thông tỏ cả. Chúng tôi bèn hỏi: “Có gia đình nào mà tổ tiên xưa là danh gia vọng tộc, cha con đều là quan phủ”, thì các cụ mách chúng tôi tìm đến “Ngõ Quan Phủ” ở thôn Hưng Phúc cùng xã.


Từ trái sang phải: Tác giả, cụ Thinh, cụ Bình, Lê Vân - cán bộ Bảo tàng Nguyễn Du


Trong một ngôi nhà làm bằng gỗ xoan, cột cái to vừa một người ôm, cấu trúc và hoa văn họa tiết kiểu cuối Lê đầu Nguyễn chúng tôi được 2 anh em cụ Nguyễn Thinh 86 tuổi và cụ Nguyễn Thanh Bình 67 tuổi tiếp.

Ngắm nhìn đôi câu đối cổ, nền gỗ sơn ta màu đen, chữ thiếp vàng và phôi pha treo hai bên bàn thờ Tổ: “Lưỡng triều danh tể tướng - Nhất thế đại nho sư” (Tể tướng uy danh hai triều đại - Nhà nho lừng lẫy nhất một thời), chúng tôi vô cùng mừng rỡ vì đây, theo chép trong gia phả, chính là những từ ngữ hàm súc nhất mà vua Lê Hiển Tông đã ban cho dòng họ Nguyễn Tiên Điền, ghi nhận công lao cụ Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm là Tể tướng kiêm Tế tửu Quốc tử giám và con trai trưởng là Tiến sĩ Nguyễn Khản cũng được giữ chức Nhập thị Tham tụng (tương đương Tể tướng), Tả tư giảng (dạy chúa Trịnh học lúc còn là Thế tử) và Tế tửu Quốc tử giám.

Quan sát kỹ thì thấy ở đôi câu đối có 2 dòng lạc khoản:

1) Long phi Mậu Thìn thu
2) Huân Mộc bái thư

Xét tên tự người viết “Huân Mộc” hàm nghĩa là “Tắm gội bằng nước cỏ thơm” thì có thể hợp với cụ nguyễn Trừ (1760 - 1809) con trai thứ 5 của Nguyễn Nghiễm. Vậy năm làm đôi câu đối này có lẽ là Mậu Thìn 1808, lúc cụ Nguyễn Trừ đang làm Tri phủ Nam Sách.

Ngôi mộ Quan Tri phủ Nam Sách - “bố vợ” vua Gia Long

Như trên đã nói về cụ Nguyễn Trừ - anh trai thứ 5 của Nguyễn Du - có con gái là Thị Uyên được tuyển vào làm Cung tần của vua Gia Long. Gia phả chép rằng, bà này đã sinh hạ với vua Gia Long một hoàng nữ, lên 4 tuổi thì mất. Như vậy cụ Nguyễn Trừ là “bố vợ” vua Gia Long.

Chúng tôi cùng 2 cụ Thinh và Bình ra viếng mộ cụ Tổ khai lập nên chi họ Nguyễn Tiên Điền tại Tiêu Sơn (Tương Giang) thì được đọc tấm bia đá cổ kích thước khoảng 30x50cm.

Mặt trước có khắc: Cố Nam Sách phủ tri phủ Nguyễn Hầu, Nghệ An trấn, Đức Thọ phủ, Tiên Điền xã nhân dã. Mặt sau khắc: Minh Mệnh thập nhất niên chính nguyệt cốc nhật phụng khắc ư Vĩnh Tường phủ công sở.

Những thông tin này kết hợp với ghi chép trong Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả thật phù hợp và đủ để kết luận: “Đây là ngôi mộ cụ Nguyễn Trừ - cố tri phủ phủ Nam Sách quê ở xã Tiên Điền, phủ Đức Thọ, trấn Nghệ An do (con trai là Nguyễn Trù) Tri phủ Vĩnh Tường khắc năm Minh Mệnh thập nhất (ngày lành tháng giêng năm 1830)”.

Bài 2: Bức hoành phi do Chánh sứ của vua Càn Long tặng

Nguyễn Khắc Bảo
(Hội Văn học nghệ thuật Bắc Ninh)


Nguồn: Báo Thể Thao Văn Hóa
Xuân Như
Bài 2: Bức hoành phi do Chánh sứ của vua Càn Long tặng


(TT&VH) - Lần theo địa chỉ từ cuốn Thế phả của gia tộc Đại thi hào Nguyễn Du, chúng tôi đã tìm về ngôi nhà gỗ xoan ở thôn Hưng Phúc (xã Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh) và được hai anh em cụ Nguyễn Thinh 86 tuổi và cụ Nguyễn Thanh Bình 67 cho xem đôi câu đối “Lưỡng triều danh tể tướng-Nhất thế đại nho sư”. Tại đây, chúng tôi lại bất ngờ một lần nữa…

Ánh sáng từ cuốn gia phả


Câu đối “Lưỡng triều danh Tể tướng/Nhất thế đại Nho sư”


Trong lúc vui chuyện, gia tộc còn biết: Năm xưa các cụ còn một bức hoành phi nữa, nhưng do đời sau gia cảnh khó khăn đã bán mất, may mà đôi câu đối mang nội dung quá hiển hách, không ai dám mua về, nên còn lưu giữ được treo ở nhà thờ Tổ đến nay.

Lần sau ra chơi thăm, may có cụ Chiểu người xóm bên sang chơi, biết vọng của tôi muốn được chiêm ngưỡng bức hoành phi cổ quý giá, cụ Chiểu đã vui lòng dẫn tôi sang nhà thờ Phạm ở cùng xã, nơi mua được và treo trang trọng trên ban thờ. Tôi bàng hoàng sững sờ, xúc động và mừng khôn xiết khi thấy 4 chữ thiếp vàng rực sáng trên cao: Dịch Thế Thư Hương (Đời đời vinh quang nhờ văn chương sách vở).

Chúng tôi xin phép kê bàn ghế cao lên để đứng đọc hai dòng lạc khoản thì thấy còn mờ mờ dòng chữ khắc bên phải là: Càn Long Tân Tỵ, Lạp tiền nhất nhật sách phong Chánh sứ Đức Bảo đề. Bên trái là: Minh Mệnh Giáp Ngọ… vọng phụng… ư Vĩnh Tường tân tu.

Đối chiếu trong gia phả thấy chép: Tháng 12 năm ấy (Tân Tỵ) sứ nhà Thanh sang sắc phong, Nguyễn Nghiễm được sai đến Thiều Dao công quán thăm hỏi, ông có làm thơ tặng Chánh sứ là Đức Bảo và phó sứ là Cố Nhữ Tu. Hai người rất khen trọng và có họa đáp. Đức Bảo lại viết 4 chữ “Dịch Thế Thư Hương” tặng ông”.


Chữ do quan Chánh sứ của Vua Càn Long viết tặng (sau đó được khắc lên bức hoành phi này)


Không còn nghi ngờ gì nữa, thông tin trong gia phả và bức hoành phi cổ thật cùng khớp và có thể kết luận chính xác rằng: đây là bức hoành phi “Dịch Thế Thư Hương” do Chánh sứ của vua Càn Long là Đức Bảo viết tặng cụ Tể tướng Nguyễn Nghiễm vào trước tháng Chạp năm Tân Tỵ (1761) một ngày (sau đó được khắc lên bức hoành phi này).

Gia đình cụ Thinh và cụ Bình rất phấn khởi khi được chúng tôi và cán bộ Bảo tàng Nguyễn Du khẳng định việc chắp nối dòng họ Nguyễn Tiêu Sơn vào dòng đại tông Nguyễn Tiên Điền và gia tộc đã nhờ thợ giỏi làm phiên bản bức hoành phi và đôi câu đối cung tiến về nhà thờ họ Nguyễn Tiên Điền.

Bản truyện kiều chữ nôm vào hàng cổ nhất

Khi hỏi về sách vở của các Quan Phủ xưa, hậu duệ cụ Nguyễn Trừ cho biết “Trước còn một cuốn gia phả, nhưng đến năm lụt 1971 thì thất lạc mất, may còn một cuốn Truyện Kiều nhưng cũng nát lắm rồi”.

Chúng tôi mừng rỡ khôn xiết, run run “cảo thơm lần giở trước đèn”, thấy đây thực là một bản Truyện Kiều cổ, khắc ván in trên giấy bản, có kích thước 12cmx17cm. Lại còn quý hơn các bản Kiều cổ đời Tự Đức vì không viết kỵ húy tên vua Gia Long là “Chủng” (âm Nôm là “Giống”) và cũng chẳng kỵ húy chữ “Lan” là tên mẹ Vua Gia Long. Việc kỵ húy vua Tự Đức cũng không được thực hiện nghiêm chỉnh.

Do vậy có thể suy luận bản Truyện Kiều này khắc vào cuối đời Thiệu Trị - đầu đời Tự Đức (1847-1848), nghĩa là vào hàng cổ nhất trong số các bản Kiều sưu tập được hiện nay.

Mong ước đoàn tụ trong dòng họ Đại thi hào Nguyễn Du

Tôi hỏi cụ Bình rằng cụ có thường qua lại nhà thờ họ Nguyễn ở Tiên Điền, Nghi Xuân hay không? Thật bất ngờ, cụ nói: “Trước đây chúng tôi hầu như không có liên lạc gì cả”.

Cụ Bình tâm sự: “Thời gian trôi qua, binh biến lưu lạc, các cụ chúng tôi về quê ngoại sống đã lâu. Trước nhà có giữ bản gia phả, nhưng sau bị thất lạc mất. Bây giờ quay về, chẳng có bằng cứ gì, sợ bị mang tiếng “thấy người sang bắt quàng làm họ” nên hằng năm đều tưởng nhớ, nhưng chẳng dám về”.
Chúng tôi trân trọng tặng gia tộc bản “Hoan Châu, Nghi Tiên, Nguyễn gia thế phả”, cụ Bình xúc động đón nhận và đã tổ chức đánh vi tính lại toàn văn, sao nhiều bản giao cho mỗi gia đình giữ một bản để “nối mạch cội nguồn”.

Họ Nguyễn Tiên Điền có dòng dõi từ Trạng nguyên Nguyễn Thuyến đời nhà Mạc ở Canh Hoạch trấn Sơn Nam, trải nhiều đời ở Hồng Lĩnh – Lam Giang vẫn tiếp nối được truyền thống khoa bảng, văn võ toàn tài của tổ tiên mà dân Hoan Châu đã ca ngợi:

Bao giờ ngàn Hống hết cây
Sông Lam hết nước, họ này hết quan


Đến đời cụ Hoàng giáp Tể tướng Nguyễn Nghiễm lại gắn bó với vùng Kinh Bắc để sinh thành ra cho dân tộc Đại thi hào Nguyễn Du mà người xứ Bắc vẫn nhắc nhở trong câu thành ngữ “Trai Tiên Điền-Hồng Lĩnh, gái Kinh Bắc-Tiêu Dương” và nay, qua duyên may run rủi chúng ta lại biết được tại Tiêu Sơn – Tương Giang - Từ Sơn một chi nhánh của dòng họ Nguyễn Tiên Điền do Nguyễn Trừ (anh trai Nguyễn Du – cũng là con của Tể tướng Nguyễn Nghiễm – lại là bố vợ vua Gia Long) tưng là Tri phủ Nam Sách, sinh con trai là Nguyễn Thích (Tri phủ Nghĩa Hưng - Nam Định) và Nguyễn Trù (Tri phủ Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc) và bà con gái là Nguyễn Thị Uyên sau này là cung tần của vua Gia Long đã nối tiếp xứng đáng truyền thống vẻ vang của gia tộc.

Ngày xuân mời các bạn về Tiêu Tương - Tương Giang - Từ Sơn để thành kính chiêm ngưỡng những di vật văn hóa, văn tự như: Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả của dòng họ Đại thi hào dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, bức hoành phi do Chánh sứ của vua Càn Long đề tặng, câu đối do vua Lê Hiển Tông ban cho cha con hai quan Tể tướng, bia mộ liên quan đến hai viên quan Tri phủ đã giúp cho hậu thế ta dễ chắp nối mạch với cội nguồn tổ tiên, dân tộc và thêm tự hào về một miền quê văn hiến xứ Kinh Bắc.

Nguyễn Khắc Bảo
(Hội VHNT Bắc Ninh)

Nguồn: Báo Thể Thao Văn Hóa
Thiên Hỏa
QUOTE(trích dẫn)(Thiên Hỏa @ Mar 9 2009, 08:45 PM) *
thiền thiên khải thánh (trời thiền sinh thánh) [thánh Từ Đạo Hạnh]
chùa Láng

từ vân
Thiên Hỏa
tuệ nhật
Thiên Hỏa
hiển đế hóa thần
cái này cũng liên quan đến thiền sư từ đạo hạnh và hậu thân của ngài là vua lý thần tông
chùa Láng
thành thái 6
Liên Hoa
Wawa các bức Hoành đẹp quá smile.gif
Liên Hoa
Nhà cháu có thêm bức cuốn thư này nữa, kính các cụ luôn, các cụ đi qua có gì chỉ giáo cho nhà cháu với, cảm ơn các cụ nhiều smile.gif Bức này được thếp bằng vàng do cầm quyền Đông Dương pháp thuộc tiến cúng, hic có mấy cái lạc khoản bị các cụ cách mạng ghét nó xóa đi mất roài, hic than ôi một thời Nho giáo bị hạ xuống coi là mê tín!!! huhu
Liên Hoa
Các cụ cắt nghĩa giúp nhà cháu với, sao cháu đi nhiều đình chùa mà sắc phong chỉ có trung đẳng hay hạ đẳng thần mà hoành phi câu đối họ cứ thích đề là Thượng đẳng nghĩa là sao thế? Đúng là tâng bốc có khác, mà hai nữa là lắm thần tích có pải là Nam Hải gì đó đâu mà những câu đối cững cứ thích đề là nam hải, hehe lại thích biển phía Nam chăng? Xin các cụ cao nhân chỉ bảo giúp nhà cháu với
Liên Hoa
Hị hị lâu nay hàng hóa câu đối nghe có vẻ ế ẩm quá các cụ ui!!!
Liên Hoa
Hị hị trời nắng rùi, đem hàng hóa ra phơi thui các cụ, cụ nào có bức hoành nào đẹp xin post lên cho mọi ngừi cùng chiêm ngưỡng ạ!!!
Jade Purity (Ngoc Thanh)
QUOTE(trích dẫn)(Liên Hoa @ May 26 2009, 08:19 AM) *
Hị hị trời nắng rùi, đem hàng hóa ra phơi thui các cụ, cụ nào có bức hoành nào đẹp xin post lên cho mọi ngừi cùng chiêm ngưỡng ạ!!!

Bác oi, chỉ có hoàn thôi ạ, đối liên đựoc không ạ. em cũng có chụp đựoc 1 đôi ngoài cổng của 1 ngôi nhà ở Bắc Ninh hay ho ra phết, tiệnthể post lên cho vui, mọi người đọc thử xem nào.
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Hi hi, cái trên em chụp rồi crop không cùng cỡ, xấu wa đi mất, các bác thông cảm nha!
Em lại xin post thêm mấy hoành phi khá khá đẹp ở Bắc Ninh ạ.

Cái này ở chỗ nảo ấy nhỉ? Em quên mất thế mớichán, thích nhất nước sơn và cách chạm khắc của người ta, hihi biggrin.gif
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Tiếp tục. Đây là hoành phi ở chùa Diềm (Làng Diềm, Bắc Ninh)(*)

(*) Ngôi chùa này đựoc sửa chữa và tân tạo rồi, tuy nhiên còn tòa Đại Hùng Bảo Điện bị đổ nát chưa thấy có sựcan thiệp. Hoành phi câu đối và bia ở đây có, rất đẹp. Ngoài ra còn mấy bức châm rất đặc biệt,các bộ hoành phi câuđối cổ còn nguyên (hình như mấy người thích đồ cổ chưa biết, hehe) Do tối quá nên chụp hơi khó,emcòn mấy bức nữa, sẽpost sau) biggrin.gif
Nam Long
Vừa đọc vừa đoán, có lẽ chưa chính xác lắm nhưng tôi thấy mấy cái tròn tròn trên kia không đối:

Lịch triều sắc tặng vinh quang xã;
Hùng đỉnh xuân hưng kiến nghiệp cao.
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Vâng ạ, ý kiến của thấy giống hệt như em nghĩ, chữ đầu của vế thứ nhất em không luận được nên không dám nói.
Tiện thể xin lỗi diễn đàn, em post ảnh của vế 2 bị lộn ngược mới chết. Mọi người thông cảm nhé!
Thầy Nam Long quả là siêu! wub.gif
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Hôm nọ đi đến Đình Linh Đàm (Hoàng Liệt, Hoàng Mai, HN), em thấy trước cửa hậu cung có bức hoành phi thời Khải Định trông hay phết.

Mọi người lại thử đọc xem nào, em cũng đọc nhưng không chắc lắm.
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Còn đây là thác bản bia ở đền Lũng (thông Lũng Khê, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh).
Cái này em tự tay in thác bản đấy nhé, hihi.
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Đây là bộ hoành phi không-phải-mới-làm ở đình Định Công Hạ
Dưới cửa võng

Cửa hậu cung
Jade Purity (Ngoc Thanh)
Bộ hoành phi Chùa Cao (Bắc Ninh)



Jade Purity (Ngoc Thanh)
Đây là hoành phi trong đình Diềm (làng Diềm, Bắc Ninh)
Liên Hoa
Bức Từ Vân chùa Láng viết từ thời nào ý các thầy nhỉ?
Xuân Như
Một bức hoành phi ở Đình Trong, làng Hòa Mục, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội



Toàn cảnh bức hoành phi



Phóng to một chữ

Minh Thành
ÂM DƯƠNG HỢP ĐỨC phỏng thày? tongue.gif
Liên Hoa
Ồ một bức cuốn thư khá hay " Đức hợp âm dương"
Xuân Như

Tấm bình phong của quan lại Bắc Kỳ dâng vua Bảo Đại khi ông lên ngôi
Xuân Như

Hoành phi câu đối niên đại mấy trăm tại chùa Bảo Tháp thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai (Thanh Trì - Hà Nội) nằm bó tạm góc nhà
Xuân Như
Từ đường họ Trịnh Đồng Nhân Chi họ Trịnh thôn Đồng Nhân, Đông La, Hoài Đức, Hà Nội
Xuân Như
Đình So (xã Cộng Hoà, huyện Hoài Đức)



Xuân Như
Đây là bức hoành phi bằng đá ở Đền Và do Tử An Trần Lê Nhân, ngồi chức Giáo thụ phủ Quốc Oai và Phan Duy Tiếp, Tri phủ Quốc Oai đề mấy chữ: Sơn dữ thiên tề (Núi Tản cao ngang trời)



Blog Nguyễn Xuân Diện
Nam Phong
Kính các cụ cao nhân dịch giúp nhà cháu bức phiến diện ở từ đường dòng họ!




Cao Sơn
Nam Phong xem trong phần toppic nhờ đọc riêng xem, tôi tạm đọc thiếu 1 chữ thế
Nam Phong
kính các cụ đọc bức hoành
xuanloimackhach
QUOTE(trích dẫn)(Nam Phong @ Feb 13 2011, 05:40 PM) *
Kính các cụ cao nhân dịch giúp nhà cháu bức phiến diện ở từ đường dòng họ!






Tôi đọc nốt chữ còn thiếu cho đầy đủ thế này ạ:

"Trú trường ngâm bãi thiền minh thụ
Dạ thâm đăng tận huỳnh nhập vi
Đây là phiên bản rút gọn của nội dung trang chính. Để xem phiên bản đầy đủ với nhiều thông tin hơn , xin hãy click vào đây.
Invision Power Board © 2001-2014 Invision Power Services, Inc.