Trợ giúp - Tìm kiếm - Thành viên - Lịch ghi nhớ
Phiên bản đầy đủ: Con chữ và nghệ thuật viết chữ
Diễn đàn Thư Họa Việt Nam > Thư Họa nước nhà > Thư pháp hiện đại > Thư pháp Quốc Ngữ
minhhoang
Sự hình thành chữ viết của loài người
Cùng với ngôn ngữ, chữ viết đã tạo nên một hệ thống giao tiếp hoàn hảo của nhân loại. Thuật ngữ “chữ viết” chỉ là hệ thống kí hiệu để ghi lại ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã ra đời rất lâu nhưng mãi cho đến giai đoạn phát triển cao trong xã hội mới hình thành chữ viết.


Nghệ thuật chữ viết:
Chữ viết là sáng tạo kì diệu của con người.
Chữ viết ra đời do nhu cầu cần thiết của xã hội, xa xưa chữ viết là những hình ảnh mang tính tượng hình hoặc tượng ý.
Cái đẹp trong chữ viết mà theo cách nói hiện đại là nghệ thuật viết chữ đẹp (Calligraphy_calligraphie-kalligraphiia), từ rất lâu các nước đã coi trọng và xem nó như một loại hình nghệ thuật “cao cấp“, là một trong những biểu tượng có thẩm mỹ của nền văn hóa dân tộc ở một số nước phương Đông.

Nghệ thuật viết chữ_ Thư Pháp:
Nghệ thuật luôn bắt đầu từ thực tế đời sống đó là sự chắt lọc cái đẹp. Qua ngôn ngữ chúng ta cũng có những sự cảm nhận ấy thông qua nghệ thuật Thư Pháp.
Thư Pháp là nghệ thuật trình bày con chữ có tính chất mỹ cảm và cơ sở mỹ học có sự gắn bó chặt chẽ liền mạch với nội dung tác phẩm.
Ta có thể hiểu Thư Pháp là nghệ thuật thể hiện chữ viết và là phương tiện bày tỏ tâm thức của con người. Với ý nghĩa đó Thư Pháp có thể xem như nghệ thuật biểu đạt mỹ cảm của mỗi dân tộc, ý tưởng, tâm tư, tình cảm chủ quan, có tác dụng đạo đức và giá trị mỹ học cao.


Chữ viết Ai cập cổ. (3000 năm tuổi)
Vẫn mang theo những đường nét tượng hình và tính mỹ thuật cao khi viết, vẽ.




Chữ Hán của người Trung Quốc được viết lên thẻ tre, một trong những di sản văn hóa của thế giới được bảo tồn và phát triển cho đến nay


Minh Hoàng biên soạn
wink.gif
minhhoang
[B]Sự hình thành chữ viết của loài người[/B]
Cùng với ngôn ngữ, chữ viết đã tạo nên một hệ thống giao tiếp hoàn hảo của nhân loại. Thuật ngữ “chữ viết” chỉ là hệ thống kí hiệu để ghi lại ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã ra đời rất lâu nhưng mãi cho đến giai đoạn phát triển cao trong xã hội mới hình thành chữ viết.


Nghệ thuật chữ viết:
Chữ viết là sáng tạo kì diệu của con người.
Chữ viết ra đời do nhu cầu cần thiết của xã hội, xa xưa chữ viết là những hình ảnh mang tính tượng hình hoặc tượng ý.
Cái đẹp trong chữ viết mà theo cách nói hiện đại là nghệ thuật viết chữ đẹp (Calligraphy_calligraphie-kalligraphiia), từ rất lâu các nước đã coi trọng và xem nó như một loại hình nghệ thuật “cao cấp“, là một trong những biểu tượng có thẩm mỹ của nền văn hóa dân tộc ở một số nước phương Đông.

Nghệ thuật viết chữ_ Thư Pháp:
Nghệ thuật luôn bắt đầu từ thực tế đời sống đó là sự chắt lọc cái đẹp. Qua ngôn ngữ chúng ta cũng có những sự cảm nhận ấy thông qua nghệ thuật Thư Pháp.
Thư Pháp là nghệ thuật trình bày con chữ có tính chất mỹ cảm và cơ sở mỹ học có sự gắn bó chặt chẽ liền mạch với nội dung tác phẩm.
Ta có thể hiểu Thư Pháp là nghệ thuật thể hiện chữ viết và là phương tiện bày tỏ tâm thức của con người. Với ý nghĩa đó Thư Pháp có thể xem như nghệ thuật biểu đạt mỹ cảm của mỗi dân tộc, ý tưởng, tâm tư, tình cảm chủ quan, có tác dụng đạo đức và giá trị mỹ học cao.


Chữ viết Ai cập cổ. (3000 năm tuổi)
Vẫn mang theo những đường nét tượng hình và tính mỹ thuật cao khi viết, vẽ.




Chữ Hán của người Trung Quốc được viết lên thẻ tre, một trong những di sản văn hóa của thế giới được bảo tồn và phát triển cho đến nay




Chữ viết trên đá huyền thạch.




Chữ viết trên xương thú.




Minh Hoàng biên soạn
wink.gif
lãnh ngọc
Lược sử chữ Quốc Ngữ
Lược sử chữ Quốc Ngữ magnify
(Đông Tỉnh) - Ngày nay, người Việt ai ai cũng có thể dễ dàng học được chữ Quốc Ngữ, trong khi chỉ rất ít người biết chữ Nôm. Chữ Quốc Ngữ giúp cho hầu hết dân ta tiếp cận tri thức nhanh chóng, vậy nó ra đời và được chấp nhận như thế nào?

Nguồn gốc

Chữ Quốc Ngữ là một công trình tập thể khởi đầu từ gần 4 thế kỷ trước, trong đó nổi lên vai trò của nhiều linh mục người Âu như Francesco de Pina (1585-1625), Gaspar de Amaral (1594-1646), Antonio Barbosa (1594-1647), Alexandre de Rhodes (1591-1660), với sự hợp tác của các trợ giảng và nho sinh tín hữu ở cả hai miền Bắc Nam, đáng tiếc chỉ được ghi lại tên thánh chứ không đầy đủ tên họ Việt (vì sợ khủng bố ngày đó?).

Trước khi đến Việt Nam vào 1615, Hội truyền giáo dòng Tên vốn có kinh nghiệm từ nhiều năm trước về ngữ âm tiếng Nhật và đã xuất bản các từ điển liên quan (1). Alexandre de Rhodes trở về Roma khi các linh mục nói trên không còn nữa. Dựa trên kết quả của cả nhóm, ông đã biên tập, bổ sung phần Latin và cho in "Từ điển Việt-Bồ-Latin" (2) năm 1651. Nếu phần diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam (Đàng Ngoài) trong từ điển này có thể coi như tài liệu khảo cứu ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên, thì cuốn sách cũng in ở Roma "Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào Ðạo Thánh Ðức Chúa Trời" (3) là giáo trình thứ nhất viết bằng chữ Quốc Ngữ, phản ánh tiếng Việt của giữa thế kỷ XVII dưới dạng còn khó đọc. Vì nhiều nguyên nhân khác nữa, chữ Nôm và chữ Hán ngày đó vẫn là phương tiện truyền giáo chủ yếu. Mãi đến bản thảo "Từ điển Việt-Latin" viết xong năm 1772 với những lựa chọn và cải tiến của giám mục Pigneau de Béhaine - mà sau được Taberd (4) biên tập và đem in ở Ấn Độ năm 1838 - ta mới thấy chữ Quốc Ngữ định hình và dễ học gần như hiện nay.
JPG - 64.2 kb
Lớp Nữ tiểu học Nam Định 1908

Quá trình phổ biến

Năm 1862, thực dân Pháp chính thức chiếm được ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và Côn Đảo, rồi tiếp tục xâm lăng và khai thác nước ta. Dĩ nhiên, họ thấy chữ Quốc Ngữ trở nên cần thiết cho việc thay nền hành chính nhà Nguyễn dựa trên chữ Hán và đã dần dần quy định bằng nhiều văn bản để đặt nó vào vị trí thứ 2 sau tiếng Pháp (5):

- Ngày 14/11/1874, Đô đốc Hải quân - Thống soái Nam kỳ François Krantz ký nghị định mở trường Chasseloup-Laubat (tên bộ trưởng Hải quân Pháp) ở Sài Gòn để dạy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ cho con em của quan chức người Pháp và người Việt đang cai trị Nam kỳ.

- Ngày 6/4/1878, Đô đốc Hải quân - Thống soái Nam kỳ Louis Lafont ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ hành chính phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay vì chữ Hán hay chữ Nôm.

- Ngày 17/3/1879, Louis Lafont thiết lập Sở Học chánh Nam kỳ và đặt chương trình giáo dục hệ Pháp-Việt đầu tiên ở Nam kỳ.

- Ngày 18/11/1896, Toàn quyền Đông Dương Paul Armand Rousseau ký nghị định mở trường Quốc Học Huế ở Trung kỳ.

- Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký sắc luật đưa chữ Quốc Ngữ vào các kỳ thi, nhưng mãi 11 năm sau (1909) mới được áp dụng.

- Ngày 27/4/1904, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ra nghị định thiết lập chương trình giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc kỳ.

- Tháng 5/1906, dụ của vua Thành Thái về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II chỉ còn học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III thì cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau. Ghi chú: triều đình Huế chẳng có thực quyền, chính Paul Beau năm sau đã truất phế vua Thành Thái.

- Năm 1917, triều đình Huế ra chỉ dụ bãi bỏ hoàn toàn lối giáo dục bằng chữ Hán và thay bằng một nền giáo dục dựa vào tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ.
GIF - 27.8 kb
Trích thơ Đông kinh nghĩa thục

Ngoài những hoạt động nêu trên, chữ Quốc ngữ lúc đầu đã được phổ biến chủ yếu trong giới trí thức, thị dân qua sách, báo của nhiều tác giả và dịch giả, thí dụ Petrus Ký (6), Paulus Của (7) v.v. ở Nam Kỳ. Các phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ (1906) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) ở Bắc Kỳ đều dùng chữ Quốc Ngữ để tuyên truyền lòng yêu nước và cải cách xã hội (8). Ba mươi năm sau, trào lưu Thơ Mới (1932-1945) lại khuấy động văn đàn. Nhưng chữ Quốc Ngữ chỉ thật sự lan rộng đến mọi nơi (9) nhờ rất đông các lớp học miễn phí ngắn ngày và dễ hiểu với đa số người dân do Hội Truyền bá Quốc Ngữ (1938-1945) rồi Nha Bình Dân Học Vụ (từ 1945) bền bỉ thực hiện.

Tình trạng ngày nay

Chữ Quốc Ngữ ký âm sáu thanh tiếng Việt bằng 5 dấu thanh: ngang (không dấu: a), huyền (dấu sổ trái: à), sắc (dấu sổ phải: á), hỏi (dấu móc: ả), ngã (dấu sóng: ã), và nặng (dấu chấm: ạ). Tất cả các dấu thanh đều được đặt trên trọng âm của các vần, riêng dấu nặng được đặt ở dưới. Câu tiếng Việt nghe như một chuỗi những đơn âm, nhưng phần lớn các từ được cấu tạo bằng nhiều đơn âm và lại không có độ dư thừa như tiếng Ấn-Âu, do đó những vần nào bị phát âm sai sẽ rất khó hiểu nếu không có văn cảnh.

Tiếng Việt gồm nhiều giọng địa phương, trong đó ba trung tâm văn hoá: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đại diện cho sự khác nhau về giọng nói và từ vựng của ba miền Bắc, Trung, Nam. Cách đọc tiêu chuẩn cả nước được dựa vào giọng Hà Nội. Nói chung, giọng miền Bắc phát âm chính xác các vần hơn hết. Giọng miền Trung phân biệt tốt một số phụ âm như tr-ch, s-x, gi-r-d, v-d, nhưng có khó khăn với các vần, đặc biệt là thanh hỏi và thanh ngã ... Mặt khác chữ Quốc Ngữ còn phải du nhập nhiều chữ từ quốc tế với cách viết và phát âm khác nhau. Chủ yếu vì những lý do như trên mà hiện nay vẫn tồn đọng vấn đề chính tả, tương tự như ở hầu hết các thứ chữ khác.

Sau khi chữ Quốc Ngữ được phổ biến trong công chúng, đã có nhiều ý kiến khác nhau đòi xét lại hệ thống chính tả. Ngay năm 1902, một Hội nghị Khảo cứu Viễn Đông đã tổ chức tại đây và vấn đề này đã được Uỷ ban Cải cách chữ Quốc Ngữ đề nghị lên Toàn quyền Đông Dương. Từ đó tới nay, đã có rất nhiều thảo luận nhằm giúp cho quy tắc chính tả tiếng Việt dần được chuẩn hoá tốt hơn, mặc dù rất ít được công chúng chấp nhận. Ngược lại, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự ra đời của các tiêu chuẩn Việt Nam liên quan và công cụ máy tính đã mang tính chất quyết định trong việc hệ thống hoá chính tả và xử lý tiếng Việt hiện đại (10).

Đông Tỉnh

Dẫn giải

1. "Dictionnarium Latino- Lusitanum ac Japonicum ex Ambrosii Calepini volumine depromptum", Amacusa, 1595; và " Vocabulario da Lingoa de Japam com a declaraçã em Portuguez", Nangasaqui, 1603.

2. A. Rhodes: "Dictionnarium annamiticum, lusitanum et latinum", Roma, S.C. de Propaganda Fide, 1651.

3. A. Rhodes: "Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisus", Roma, S.C. de Propaganda Fide, 1651.

4. Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị, "Dictionarium anamitico-latinum" primitus inceptum ab P. J. Pigneaux, episcopo adranensi, vicario apostolico Cocincinae &c ; dein absolutum et editum a I. L. Taberd, episcopo isauropolitano, vicario apostolico Cocincinae. Serampore, Ex Typis J. C. Marshman, 1838.

5. Correspondance entre le gouverneur de la Cochinchine, puis le gouverneur général de l’Indochine, et les correspondants autres que le ministre. 1861/1911. Ref. FR CAOM GGI B 220.

6. Một số thơ Nôm vốn đã nổi tiếng, khi được Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc Ngữ và in thành sách thì dân chúng rất thích: Lục súc tranh công, Kim Vân Kiều (1885), Lục Vân Tiên...

7. Ngoài Đại Nam quấc âm tự vị (1895, 1896), Huình Tịnh Của còn viết bằng chữ Quốc Ngữ nhiều tác phẩm như: Chuyện giải buồn (1880, 1885); Gia lễ (1886); Sách quan chế (1888); Văn Doãn diễn ca (1906); Câu hát góp (1904); Ca trù thể cách (1907); Thơ mẹ dạy con (1907). Ông còn phiên âm những tác phẩm thơ nôm xưa và xuất bản để phổ biến: Quan âm diễn ca, Bạch Viên Tôn Các (1906), Thoại Khanh Châu Tuấn (1906)...

8. Vũ Văn Sạch, Vũ thị Minh Hương, Philippe Papin: "Văn thơ Đông kinh nghĩa thục", Cục Lưu trữ Nhà nước Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, Nhà xuất bản Văn hoá, 1997.

9. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam: 50 Năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 2004, tr. 329): "... Có thể nói, trong lịch sử, chưa bao giờ dân tộc ta lại ham học và đi học đông như thế. Hàng triệu người tham gia học tập, kết quả là chỉ sau một năm phát động phong trào xóa nạn mù chữ, tính đến ngày 8/9/1946 cả nước đã có 74.950 lớp học bình dân học vụ, 95.660 giáo viên và 2.520.000 học viên biết đọc biết viết. Đó cũng là thắng lợi bước đầu khá quan trọng của văn hóa giáo dục Việt Nam.” Ghi chú: lúc đó cả nước có khoảng 25 triệu dân và đang chiến đấu ác liệt ở Nam bộ từ ngày 23/11/1945.

10. Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 5712:1993, TCVN 6909:2001 (dựa trên bộ mã đa ngữ Unicode 3.1 và tiêu chuẩn quốc tế ISO 10646-1:2000).

Trả lời bài này
Bài vở của chuyên mục này

1. Dòng chữ bí hiểm trong câu thần chú
25, Tháng Giêng 2007

2. Chữ Nôm, hệ văn tự Cổ Việt
13, Tháng Hai 2007

3. DẤU HỎI VÀ DẤU NGÃ
13, Tháng Hai 2007

4. Chữ Nôm Và Cổ Văn Việt
14, Tháng Hai 2007

5. Chữ Nôm trong tin học
14, Tháng Hai 2007

6. Lược sử chữ Quốc Ngữ
14, Tháng Hai 2007

7. NHỮNG CÔNG LAO BỊ QUÊN LÃNG
20, Tháng Hai 2007

8. Alexandre de Rhodes
27, Tháng Hai 2007

9. Chữ quốc ngữ ở Nam kỳ với thế lực của phụ nữ
27, Tháng Hai 2007

10. Nguồn gốc các dấu Quốc ngữ
27, Tháng Hai 2007

11. Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ
19, Tháng Ba 2007

12. Về cách viết, đọc tên riêng nước ngoài
24, Tháng Ba 2007

13. Thói quen đọc
24, Tháng Ba 2007

14. Lịch sử chữ viết
3, Tháng Tư 2007

15. Người Sumer và chữ viết hình góc
3, Tháng Tư 2007

16. Cuốn sách đầu tiên
25, Tháng Tư 2007

17. Tiếng Việt, lộn xộn từ ABC
26, Tháng Năm 2007

18. Chữ Quốc ngữ, Đông Kinh nghĩa thục và vấn đề cải cách chữ Việt trong thế kỷ XX

[i]theo nguồn http://blog.xalo.vn/xemketqua.xalo?module=...lqkpJ%3Fp%3D303[/i]
lãnh ngọc
xin lỗi nhà cháu pos nhầm!
Đây là phiên bản rút gọn của nội dung trang chính. Để xem phiên bản đầy đủ với nhiều thông tin hơn , xin hãy click vào đây.
Invision Power Board © 2001-2014 Invision Power Services, Inc.