<?xml version="1.0" encoding="utf-8" ?>
<rss version="2.0">
<channel>
	<title>Diễn đàn Mạng Thư Họa Việt Nam</title>
	<description>Diễn đàn chuyên môn, học thuật và tổng hợp về Thư pháp, Thư họa Việt Nam Được sáng lập, xây dựng và quản trị bởi Xuân Như Vũ Thanh Tùng</description>
	<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php</link>
	<pubDate>Thu, 09 Sep 2010 01:55:06 -0500</pubDate>
	<ttl>1</ttl>
	<image>
		<title>Diễn đàn Mạng Thư Họa Việt Nam</title>
		<url><![CDATA[style_images/<#IMG_DIR#>/rss.png]]></url>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php</link>
	</image>
	<item>
		<title>GỬI NGƯỜI EM GÁI!</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=321</link>
		<description><![CDATA[Mùa thu sao cứ làm con nhớ? <br />Đất khách quê người lạnh lắm thay! <br />Mưa thu sao cứ rơi con ướt? <br />Những tháng ngày buồn đếm ngón tay… <br />Con đi bữa ấy hoa xoan rụng <br />Xoan rụng sân rêu nát gót giày <br />Vườn ruộng ao nhà ai kẻ đoái? <br />Mùa màng trông ngóng ngóng trông ai? <br />Mẹ ơi!Xuôi ngược Nam rồi Bắc, <br />Hết Bắc ra Nam đã héo gầy… <br />Nhà cũ sân tường rêu vắng lạnh <br />Gạch thềm loang lổ lá thu bay… <br /><br /><br />Con lên phố thị mùa xuân ấy, <br />Chẳng biết cậy ai ở xứ người, <br />Má hồng nước lã phù du quá! <br />Thân gái dặm trường có mấy ai? <br />Mẹ ơi!Ai cứ như con nhỉ? <br />Bỏ đói yêu thương được mấy ngày? <br />Dở chăng ai biết?Ai không biết? <br />Ai cười?Ai khóc với ai đây? <br />Người ta thương xót mà rơi lệ <br />Con xót thương chi lệ ngắn dài? <br /><br /><br /><br />Chiều nay ra ngõ con trông mẹ <br />Cứ sợ mẹ về con chẳng hay <br />Ngày xưa còn nhỏ con ra ngõ<br />Cũng đứng trông mong ở chốn này<br />Mẹ ơi,từ độ cha đi mất...<br />Bỏ mẹ con mình với đắng cay <br />Tha hương đất khách mình thân mẹ <br />Lăn lộn nuôi con những tháng ngày <br />Chao ôi mắt lạnh người dưng ấy <br />Đến nụ cười dưng cũng phải vay… <br />Mẹ con chưa một lần nhung lụa <br />Nay lại mang thêm tiếng thở dài <br />Một duyên hai nợ âu đành phận, <br />Bảy nổi ba chìm con nước mây. <br /><br /><br />Mùa thu sao cứ làm con nhớ <br />Đất khách quê người lạnh lắm thay! <br />Chiều nay thu liễu buông hồ lệ<br />Xác cánh hoa tàn rớt xuống tay <br />Mùa đã đi rồi,đi rất vội <br />Để lại cho con dấu chấm ngày <br />Con sợ hương mùa bay mất hết <br />Với hờ,lại bắt phải đôi tay… <br /><br /><br />Ngày mai,ngày mốt mùa đi biệt <br />Ai sẽ trở về trong gió may? <br />Ai người xa khuất ngàn thu thủy? <br />Ai đếm dung nhan những dấu ngày? <br />Ai buồn,ai nhớ mà thương cảm… <br />Mưa mùa thu rớt xuống truông mây… <br />Chao ôi liễu rũ trong hồ lệ!<br />Có cánh chim non nó lạc bầy <br />Cùng với gió mùa đương thảng thốt <br />Con về cất lại chút thơ ngây <br /><br /><br />Mẹ ơi,thu cứ làm con nhớ <br />Đất khách quê người lạnh lắm thay! <br />Mưa thu sao cứ rơi con ướt <br />Có phải đa mang mới thế này?...<br />]]></description>
		<pubDate>Sat, 04 Sep 2010 21:43:36 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=321</guid>
	</item>
	<item>
		<title>địa chỉ học thư pháp việt tại Thanh Xuân</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=320</link>
		<description>đang nghỉ hè, em rất muốn học và tim hiểu về thư pháp việt. nhưng mà em lại không có xe máy để có thể lên tận trên cung văn hóa để học. các bác có chỗ học nào ở Thanh Xuân ngã tư sỏ không? Giới thiệu cho em cái</description>
		<pubDate>Thu, 12 Aug 2010 06:49:48 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=320</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thư pháp Minh Hoàng với chữ Tâm</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=319</link>
		<description><![CDATA[Con đường và những niềm tin đã tạo nên cho chính tôi nét đẹp đơn giản nhất của tâm hồn, thể hiện qua nét bút dường như chính cảm xúc ấy làm tôi mãnh liệt hơn, mạnh mẽ hơn, kiên trì hơn qua năm tháng. Xin chia sẻ cùng mọi người. Rất mong nhận được nhiều hồi đáp và chia sẻ với Thư pháp Việt của tôi.<br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=161'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=161</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=162'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=162</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=164'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=164</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=165'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=165</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=167'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=167</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=168'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=168</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=169'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=169</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=170'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=170</a><br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=172'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=172</a><br /><br /><br /><br /><br /><br />Minh Hoàng<br /><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /><br />]]></description>
		<pubDate>Mon, 26 Jul 2010 06:52:14 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=319</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Studio lhmc</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=318</link>
		<description><![CDATA[Nếu rảnh mọi người có thể ghé thăm trang web của luchavnn<br /><a href="http://luchavnn.weebly.com" target="_blank">http://luchavnn.weebly.com</a><br />by luchavnn<br /><br /><img src="http://www.artfreaks.com/forums/uploads/1275953933/med_gallery_1931_50_50520.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Thank you.<br />FB: luchavnn]]></description>
		<pubDate>Mon, 19 Jul 2010 04:29:22 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=318</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tham gia hội thảo giới thiệu học tiếng Nhật</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=317</link>
		<description><![CDATA[- Bạn muốn học tiếng Nhật một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất?<br />- Bạn học tiếng Nhật đã lâu mà chưa nghe nói lưu loát tiếng Nhật?<br />- Bạn muốn vượt qua dễ dàng các kỳ thi kiểm tra năng lực tiếng Nhật?<br /><br />Chúng tôi, trung tâm Nhật ngữ Top Globis, sẽ giúp bạn. Chúng tôi đến từ Nhật, đất nước mặt trời mọc với hơn 10 năm kinh nghiệm giảng dạy tiếng Nhật cho các công ty lớn của Nhật tại Việt Nam, chúng tôi hiểu và muốn truyền đạt lại các bạn phương pháp học tiếng Nhật tối ưu nhất. <br /><br />Để kiểm chứng, mời các bạn đến tham dự buổi hội thảo giới thiệu tại trung tâm đào tạo Nhật ngữ Top Globis của chúng tôi vào sáng Chủ Nhật các ngày  25/7, 1/8/2010 tại 77 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1 (Bản đồ*) lúc 10h hoặc 11h nhé. (Sẽ có quà tặng hấp dẫn cho bạn <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/happy.gif" style="vertical-align:middle" emoid="^_^" border="0" alt="happy.gif" />)<br /><br />Để biết thêm chi tiết, vui lòng liên hệ bộ phận Tư vấn viên: 22155163 hoặc 22414523<br />Hoặc dành 1 phút ghi danh trực tuyến:<br /><a href="http://top-globis.com/edu/addon/staff/register.php?tvv=Tram" target="_blank">http://top-globis.com/edu/addon/staff/register.php?tvv=Tram</a><br /><br />*Bản đồ:<br /><a href="http://top-globis.com/edu/addon/staff/images/map_77_dien_bien_phu.jpg" target="_blank">http://top-globis.com/edu/addon/staff/imag...en_bien_phu.jpg</a><br /><br /><br />]]></description>
		<pubDate>Wed, 14 Jul 2010 23:23:37 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=317</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Bút tích chữ Triện của Hồ Nguyên Trừng</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=316</link>
		<description><![CDATA[Bia “Phổ Đồng Tháp Ký” nằm trên tháp phổ đồng thuộc khu vực chùa Tú Phong khu Hải Điện – Bắc Kinh, TQ (Xin xem thêm bài “Bài Văn bia của Hồ Nguyên Trừng …”). Hai chữ “Phổ đồng” thực ra không phải tên riêng của tháp, mà là cách gọi chung cho các tháp lưu giữ tro cốt chung cho nhiều người, thường gửi ở nơi chùa miếu trong truyền thống tang táng của người Trung Quốc. Nội dung bài văn bia này do Hồ Huỳnh – thượng thư bộ Lễ nhà Minh soạn, văn bia cũng cho biết Hồ Nguyên Trừng viết chữ triện trán bia và đạo sĩ Châu Đạo Ninh viết chữ.<br /><br /><div align='center'><img src="http://i141.photobucket.com/albums/r51/zhouhaitang/pdtk.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br />Về nhân vật Hồ Huỳnh chúng ta đã biết đến qua bài bạt mà ông viết trong tác phẩm Nam Ông Mộng Lục của Hồ Nguyên Trừng. Qua tấm bia này, một lần nữa chúng ta thấy mối quan hệ khăng khít, bạn bè thân cận giữa hai ông.<br /><br />Hồ Huỳnh (1375 – 1463) tự Nguyên Khiết người Vũ Tiến (nay là Thường Châu, Giang Tô). Năm Kiến Văn thứ 2 đậu tiến sĩ, được giao chức Cấp sự trung ở Bộ binh. Năm Vĩnh Lạc nguyên niên (1403) đổi làm Đô cấp sự trung bộ Hộ. Do cái chết của Minh Huệ Đế không rõ ràng, nên Minh Thành Tổ đã mật sai Hồ Huỳnh đi điều tra khắp thiên hạ, đến năm Vĩnh Lạc 14 mới về kinh, được thăng Lễ bộ tả thị lang. Sau khi Minh Thành Tổ chết, Hồ Huỳnh cùng 4 người khác là cố mệnh đại thần. Tháng 4 năm Tuyên Đức nguyên niên (1426) thăng Thượng thư bộ Lễ. Năm đầu niên hiệu Cảnh Thái sung Thái tử Thái phó. Làm thượng thư bộ Lễ hơn 30 năm, sau về trí sĩ, mất được ban thụy là Trung An. Ông để lại trước tác có “Chi Hiên Tập”, ngoài ra còn có bài văn bia: “Sắc tứ Pháp Hải thiền tự bi ký” soạn năm Chính Thống 8 (1443) …<br /><br />Về thể chữ triện, đó là một trong năm thể chữ cơ bản của lối viết chữ Hán, có từ trước thời Tần (gọi là Đại triện) sau khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, chỉnh lý lại chữ viết, Lý Tư đã giản ước cải tiến lại chữ của sáu nước đặt ra lối chữ giản đơn hơn gọi là Tiểu triện (hay Tần triện), Lý Tư cũng được coi là một đại biểu của thư gia viết lối chữ triện trong lịch sử thư pháp, chữ triện của Lý Tư hiện còn thấy trên Thái Sơn khắc thạch.<br />Qua đời Hán lối chữ Triện không tiện dụng nữa, và dần được thay thế bằng các thể chữ khác như lệ rồi khải… Tuy nhiên trong thư pháp, lối chữ triện vẫn được nghiên cứu học tập và viết. Nhiều thư gia nổi danh với thể chữ này như: Lý Dương Băng đời Đường, Đặng Thạch Như đời Thanh …<br /><br />Lối chữ triện đặc biệt được dùng để viết tiêu đề trên trán bia đá, cách thức này thông dụng cả ở Việt Nam dưới thời Lê (sau này thì hay viết chữ khải hơn) và có những người chuyên chỉ viết triện trán bia. Như chữ triện trên trán các bia đầu tiên dựng thời Lê ở Văn Miếu HN đều do thư gia Tô Ngại viết.<br /><br />Do vậy có thể thấy, việc Hồ Nguyên Trừng được nhờ viết chữ triện trán bia Phổ đồng tháp ký này chứng tỏ một sự đánh giá nhất định đối với khả năng viết chữ triện của ông.<br /><br />Sau đây xin phiên âm và dịch toàn bộ nội dung bia Phổ Đồng Tháp Ký ở trên:<br /><br />Phiên âm:<br /><br />Phổ Đồng Tháp Ký<br /><br />Tư Đức đại phu, Chính trị Thượng khanh Lễ bộ Thượng thư, tiền Thái tử Tân khách, kiêm Quốc tử Tế tửu, Tỳ Lăng – Hồ Huỳnh soạn.<br />Tư Thiện đại phu, Công bộ Thượng thư, Giao Nam – Lê Trừng triện ngạch.<br />Đạo lục ti Hữu huyền nghĩa, kiêm Đại Đức Quán trụ trì, Tiền Đường – Châu Đạo Ninh thư đan.<br /><br />Phổ đồng tháp tại Thuận Thiên phủ, Uyển Bình huyện, Tú Phong tự, khứ thành bát thập lý. Chính Thống cửu niên tứ nguyệt cát thần, trung quý Vũ Ngẫu (…) dĩ thanh thời hạ nhật, du lãm tư tự, ái kỳ sơn xuyên tú lệ, khê lưu hoàn bão, lâm mộc ông uất, tụ khí tàng phong, phục giáp trượng lý, lịch hác kinh khâu, trụ Tú Phong chi tả, tướng kỳ âm dương, quan kỳ hướng bối, thẩm kỳ khí mạch, long huyệt du tại, thành túc vi thọ tàng chi sở. Viên phát phổ tâm, dĩ vi độc tư ư kỷ, hạt nhược dữ chúng cộng chi? Ngô sài đồng tế thăng bình chi thế, cộng xu điện bệ chi gian, túc dạ hành tàng, thân tâm hưu thích võng hoặc bất đồng, sinh ký như tư, vong một diệc nghi tụ xứ. Cái nhân chi sinh tử, như âm dương trú dạ, nãi lý chi thường, thế sở nan miễn. Nhân truy niệm tiên bối luân vong chi tế, gián hữu thương tốt vô y nhi bất đắc kỳ sở giả. Do thị cức mộ chúng duyên, dung công vận bích, dự kiến phổ đồng thọ tháp nhất tọa, kỳ sùng tam trượng, hữu kỳ ngẫu, phàm hậu chi khí giả quy chân giả tất tàng kỳ phách ư nội, dĩ thỏa kỳ linh. Do thử quan chi, tắc trung quý Vũ công chân khả vị đạt sinh an mệnh như vưu năng trượng nghĩa tuẫn chúng dĩ toàn thủy chung chi đạo giả dã. Kim phục trưng dư vi ký, vưu khủng hậu nhân muội kỳ sáng thủy chi do, phế kỳ kế thuật chi đạo, tắc di mưu tuy thiện, nhi mẫn kỳ truyền hĩ. Hậu chi nhân nhân quân tử, củ năng thể thử nhi sung kỳ nhất niệm chi lương tâm tương dữ thiện kế thiện thuật tắc nhân nhân vô bất đắc kỳ sở, nhi anh linh hằng thỏa ư nội. Nhi Vũ công chư trung quý chi đức nghĩa thùy thị du cửu nhi vô cùng hĩ. Dư cố phất từ nhi vi chi ký giả, phỉ đồ kỷ Vũ công đẳng chi gia tích diệc dĩ vi hậu thế mộ nghĩa tuẫn chúng giả chi lương đồ dã.<br /><br />Chính Thống thập niên, tuế thứ Ất Sửu thất nguyệt thập ngũ nhật  -  Nguyễn Phúc Tường, Nguyễn Phúc Thiện, … Trần Giác Thọ (13 người) – đồng lập thạch.<br /><br />Dịch nghĩa:<br /><br />Bài ký tháp Phổ đồng<br /><br />Tư Đức đại phu, Chính trị Thượng khanh Lễ bộ Thượng thư, từng là Thái tử Tân khách, kiêm Quốc tử Tế tửu, Hồ Huỳnh người Tỳ Lăng soạn.<br />Tư Thiện đại phu, Công bộ Thượng thư, Lê Trừng người Giao Nam viết chữ triện trán bia<br />Đạo lục ti Hữu huyền nghĩa, kiêm Đại Đức Quán trụ trì, Châu Đạo Ninh người Tiền Đường viết chữ.<br /><br />Tháp phổ đồng ở chùa Tú Phong, huyện Uyển Bình, phủ Thuận Thiên cách kinh thành tám mươi dặm. Ngày lành tháng Tư năm Chính Thống thứ 9 (1444) quan trung quý (thái giám) Vũ Ngẫu (…) nhân buổi rỗi rãi thanh nhàn đến chơi chùa này, mến cảnh núi sông đẹp đẽ, khe suối bao bọc, cây rừng tươi tốt, thực là nơi tụ khí tàng phong, bèn tháo dép chống gậy, lội suối băng gò, dừng lại mé trái núi Tú Phong, xem xét âm dương, quan sát phương hướng, thăm dò khí mạch, long huyệt ở đó, đúng là chỗ đáng làm nơi chôn cất sau này. Bèn phát tâm quảng đại, nghĩ rằng chỉ nghĩ đến mình sao bằng được cùng hưởng chung với mọi người? Chúng ta cùng được sống trong cảnh thanh bình, cùng ra vào ở chốn cung điện, chuyện hành tàng trước đây, thân tâm vui buồn cảnh đời thuận nghịch hoặc có khi chẳng giống nhau, sống đã như vậy, đến khi chết đi cũng nên cùng tụ họp một nơi. Vả chăng chuyện sống chết của con người cũng như âm dương đêm ngày là lẽ thường vậy, làm sao có thể tránh được. Nhân nhớ đến người trước phải chịu cảnh lưu lạc, cũng có người vội vã mà chẳng có nơi nương tựa (an nghỉ) sau cùng. Vì vậy bèn khuyến góp mọi người, thuê mướn nhân công vận chuyển gạch ngói xây một tòa thọ tháp chung cho mọi người. Tháp cao ba trượng có (ô) chẵn lẻ, phàm về sau ai là người bỏ nơi giả tạm về chốn vĩnh hằng sẽ cất giữ thể phách vào trong ấy, để linh hồn được thỏa nguyện.<br />Xem đó đủ thấy, quan trung quý họ Vũ thực là người đạt sinh an mệnh, lại thêm là kẻ trượng nghĩa biết vì mọi người mà giữ trọn cái đạo thủy chung vậy. Nay lại bảo tôi viết bài ký, lo rằng người sau không biết rõ lý do ban đầu khi dựng tháp này, mà bỏ mất cái đạo kế thuật, thì mưu tính tuy hay đấy, nhưng mai một chẳng truyền được đến sau vậy. Những bậc nhân nhân quân tử sau này, nếu có thể thể tất mà thêm một tấm lòng tốt nhớ đến, sẽ đem điều thiện nối tiếp điều thiện thì người người chẳng ai không có chốn nương thân, mà anh linh cũng hằng thỏa trong ấy. Hơn nữa, điều đức nghĩa của ông Vũ cùng các ông trung quý cũng sẽ còn lại mãi mãi không cùng vậy. Vậy nên tôi không dám chối từ mà làm người viết bài ký này, chẳng phải chỉ để ghi lại công tích của bọn ông Vũ mà cũng là để mưu đồ cho những ai biết mộ nghĩa vì người ở đời sau vậy.<br /><br />Ngày 15 tháng 7 năm Ất Sửu niên hiệu Chính Thống thứ 10 (1445) –Nguyễn Phúc Tường, Nguyễn Phúc Thiện, … Trần Giác Thọ (13 người) – cùng dựng bia ./.<br /><br /><br />Tháng hoa lựu năm Canh dần<br />Lê Tiến Đạt]]></description>
		<pubDate>Wed, 14 Jul 2010 20:56:23 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=316</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Bài Văn Bia của Hồ Nguyên Trừng Và Ngôi Chùa Việt Ở TQ TK15</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=315</link>
		<description><![CDATA[Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446) là con trai cả của Hồ Quý Ly. Tháng 11.1394 lần đầu tiên sử sách nhắc đến Hồ Nguyên Trừng với việc bổ nhiệm ông làm Phán tư sự dưới triều Trần Nghệ Tông.<br /><br />Tháng 2 năm 1400 Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, đến tháng 12 thì tự xưng Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho con là  Hồ  Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả tướng quốc. <br /><br />Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Khi ấy Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”.<br /><br />Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu - Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn. Tả tướng quốc Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái. <br /><br />Thất bại này nối thất bại kia vì giặc mạnh lại biết dùng kế ly gián, chia rẽ họ Hồ với quân tướng và dân chúng. Giữa năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ, từ Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đến con cháu đều bị bắt sống và giải về Kim Lăng, Trung Quốc.<br /><br />Vì có tài, nên sau khi bị bắt về Trung Quốc, Nguyên Trừng được tha bổng và nhậm một chức quan thuộc Công bộ, chịu trách nhiệm chế tạo hỏa súng, hỏa tiễn và thuốc súng trong Binh tượng cục (Cục chế tạo vũ khí) <br /><br />Tháng sáu, năm Chính Thống thứ 10 (1445) Hồ Nguyên Trừng được thăng làm thượng thư bộ công, giữ việc nội phủ, tháng 7 năm sau mất, hưởng thọ 73 tuổi, an táng tại vùng núi phía tây Bắc Kinh, sườn núi Ngọc Đài, thôn Nam An Hà. Theo một số sách vở Trung Hoa (Minh sử cảo), triều Minh khi tế thần súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng.<br /><br />Hiện ở Việt Nam văn chương của Hồ Nguyên Trừng mới được biết đến qua cuốn “Nam Ông Mộng Lục” là tác phẩm ông viết trong thời gian ở Trung Quốc, với bút hiệu Nam Ông (ông già nước Nam). Trước tác gồm 31 thiên, do Hồ Huỳnh, Thượng thư bộ Lễ Minh triều đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương - cũng người gốc Việt. Hồ Huỳnh từng nhận định: "Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời... Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thì siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình...". (Trong Thơ Văn Lý Trần tập III - 1978, có in toàn bộ Nam Ông Mộng Lục, tuy nhiên thiếu mấy một số thiên)<br /><br />Nhưng tại chùa Tú Phong - một ngôi chùa do người Việt dựng tại Trung Quốc từ đời Minh ở phía Tây Bắc Kinh hiện còn một tấm bia do Hồ Nguyên Trừng soạn văn bia. Đó là tấm bia: “Sắc tứ Tú Phong tự bi”.<br /><br /><div align='center'><img src="http://i141.photobucket.com/albums/r51/zhouhaitang/CanhchuaTuPhongvaBia.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><i>Một góc chùa Tú Phong và Bia</i></div><br /><br />Chùa Tú Phong nằm trên núi Tú Phong thuộc thôn Nam An Hà, xã Bắc An Hà, khu Hải Điện, Bắc Kinh. Chùa do thái giám Cao Nhượng và nhà sư trụ trì người gốc Việt Nam là Trí Thâm khởi công xây dựng năm Tuyên Đức thứ 8 đời Minh (1433) đến năm Chính Thống thứ 2 đời Minh (1437) thì hoàn thành, được hoàng đế nhà Minh ban tên là Tú Phong Tự.<br /><br />Ngôi chùa được dây dựng theo hướng đông, gồm ba lớp điện chính. Cuối đời Thanh chùa Tú Phong bị để hoang tàn. Đầu năm Dân quốc (1911) nhóm Lưu Trọng Lỗ, Bảo Thuỵ Thần mượn chùa và sửa chưa thêm lập toà báo Hạc Quần. Mùa xuân năm Dân quốc 14 (1925) đạo sĩ Vương Tú Chân bỏ tiền ra mua lại chùa, năm 1926 lại mua thêm các núi xung quang chùa, sau đó đổi tên chùa thành Tu Chân quán, bái Trương Nghĩa Cung làm thầy trụ trì quán này. Năm 1928, Trương Nghĩa Cung chết, Tu Chân đạo sĩ bỏ đi, Lâm Hành Quy lấy núi Tú Phong làm biệt thự đã mua chùa viện và các khu xung quanh, và lại bỏ tên quán, đổi lại thành chùa, Bảo Thuỵ Thần đề một biển cho chùa là “Tú Phong Cổ Sát”. Năm 1937 nổ ra sự kiện Mùng 7/7 ở cầu Lư Câu chùa Tú Phong trở thành căn cứ địa cho đội quân du kích Trung Quốc. Năm 1944 lập trạm tình báo Bình Tây ở chùa Tú Phong, trạm trưởng là Lương Ba. Năm 1945, lập ra Tân Văn Yếu Báo ở chùa Tú Phong, trong vòng 3 tháng phát hành khoảng 30 số, tổng biên tập là Triệu Phàm.<br /><br />Có thể nói, chùa Tú Phong là một trong những ngôi chùa Việt đầu tiên của người Việt tại Hải Ngoại, và hiện còn lưu một bài văn bia do Hồ Nguyên Trừng một người Việt tài năng soạn. Xin giới thiệu nội dung bài văn bia “Sắc tứ Tú Phong tự bi” của Hồ Nguyên Trừng:<br /><br /><div align='center'><img src="http://i141.photobucket.com/albums/r51/zhouhaitang/TuPhongTuBi.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><i>Bản rập bia Sắc Tứ Tú Phong Tự</i></div><br /><br /><div align='center'><b><br />SẮC TỨ TÚ PHONG TỰ BI</b></div><br /><br />Chính nghị Đại phu, Tư trị doãn Công bộ Tả thị lang, Giao Nam – Lê Trừng soạn.<br />Tướng sĩ lang, Hồng Lô tự Tự ban, Quát quận – Quý Thuần thư.<br />Văn lâm lang, Đại Lý tự Hữu tự Hữu bình sự Thanh Nguyên – Trang Sâm triện ngạch.<br /><br />Kinh đô chi tây khứ thành lục thập dư lý hữu tự viết Tú Phong, nãi thái giám Cao công Nhượng dữ trụ trì tăng Trí Thâm sở sáng dã. Thâm – Giao Nam danh tăng, tính Ngô thị, tự ấu xuất gia, khắc khổ tham học. Dĩ Tuyên Đức mậu thân lai đáo bắc kinh, ngẫu ngộ đại quốc sư ngô công thân tăng lục ti giảng kinh, Nguyệt Công, Luật Thiếp công định giác, Nghĩa Ô công, Hiển Toản công, Thắng Nạp công, Lý Thiền công, Nhẫn Tam công phổ hữu đồng hương chi nghị đắc lễ. Quán đỉnh Quảng thiện tây thiên phật tử đại pháp sư toại thụ tâm ấn, trú tích vu Dương Đài sơn Đại Giác tự. Nhật thường biến duyệt Đại tạng, cửu bất hạ sơn, giới hạnh tinh nghiêm, nhân đa khâm ngưỡng.  <br /><br />Nhất nhật, tán sách tự bắc khả tam lý hứa, chí vu Tú Phong sơn lộc, kiến kỳ cảnh trí thanh thắng, long hổ bàn toàn, thạch bích sàm nham hoàn ủng vu kỳ hậu, tả hữu song giản giao lưu vu kỳ tiền, thảo mộc ông uý, hoa quả mậu thịnh, ý phi phàm địa. Nãi tuần vu dã lão, viết: Kỳ củ tương truyền thử cổ bảo sát chi địa dã. Thâm bi hỉ giao tịnh, thệ dĩ khôi phục thánh cảnh. Cao công văn nhi hỷ chi, nãi dũng mãnh phát tâm, khuynh kiệt tài lực vi công đức chủ, cập dữ thái giám Trần công Ngang, trung quý Hoàng công Hùng, Nguyễn Phúc Thâm, Phạm Giác Thọ, Bùi Hỉ, Kim Toả (Đáo?), Nguyễn Giác Mục, Trịnh Trí Quảng, Châu Phổ Minh, Trương Phúc Sơn đẳng đồng xả kỷ tư, trợ sư kiến lập đạo trường, dĩ thượng chúc thánh cung vạn tuế, thiên hạ thái bình. Sư nãi vận dụng tâm tượng, bố trí quy mô, thân tự phục cần dĩ tiên đồ lữ, phong kỳ dung thực dĩ lai chúng công. Việt tự Tuyên Đức quý sửu xuân khởi tạo, chí Chính Thống đinh tỵ đông tất công, bất ngũ lục niên nhi sơn môn trác lạc, điện vũ nguy nga, đan hoạch tinh huỳnh, kim bích hoán lạn, viên tường liêu nhiễu, lang vũ huy phi, phàm thường trụ chi du ti, các hữu kỳ sở. Thái giám Trần công Ngang, Nguyễn công Tông hựu quyên gia tư ấn tạo Đại Tạng kinh văn, trang nghiêm quỹ hạp, lưu vu bản tự dĩ vĩnh kỳ truyền. Sư giai vãng phản duyệt độc lệ chúng hiệu cần, chung cổ hương đăng, thần hôn tán vịnh, dĩ bảo hộ quốc thổ, phổ tế quần sinh. <br /><br />Chí Chính Thống lục niên, tam nguyệt nhị thập nhất nhật, thái giám Cao công Nhượng thực cụ tấu, khâm mông thánh ân sắc tứ danh ngạch viết: “Tú Phong Tự”, lâm lộc sinh quang, tăng tục cải quan. Trí Thâm phần hương, khể thủ ngôn viết: “Hạnh ngộ hải nội thanh bình, nhân dân phú ấp, hựu nhân chư công đồng phát thiện tâm, trợ thành Phật sát, trí mông ân tứ, vạn đại thuỳ quang, khả bất khắc thạch dĩ thị vĩnh viễn?” Nãi mệnh kỳ đồ, yết dư trưng văn. Dư viết: “Thâm sư cần lao dĩ thành phật sự, chư công tác phúc dĩ báo thượng ân, quan kỳ dụng tâm, đồng quy chí thiện, thị nghi minh minh viết: <br /><br />Thần châu đoài dã;		Sơn đĩnh Tú Phong;		<br />Bàn long cứ hổ;		        Hấp cảnh tàng phong; <br />Hàm hoằng sảng lãng; 	Tú khí sở chung;<br />Giản tuyền lãnh liệt; 		Thảo mộc phong nhung;<br />Ái nhiên phúc địa; 		Nghiễm nhược phạn cung.<br />Phạn cung y hà? 		Hữu quy hữu chế; <br />Điện vũ nguy nga; 		Sơn môn tráng lệ;<br />Tượng thiết tôn nghiêm; 	Long thiên dực vệ.<br />Sáng giả y thuỳ? 		Trí Thâm trụ trì;<br />Viên kinh viên thuỷ; 		Tải cấu tải ky (cơ)<br />Đại thiện đàn việt; 		Trợ dĩ thành chi.<br />Thượng chúc thánh thọ; 	Hạ hựu sinh dân;<br />Phúc điền quảng đại; 		U hiển triêm ân.<br />Tự ký thành chỉ; 		Danh diệc chính chỉ;<br />Tứ ngạch kim thư; 		Sủng quang vĩ vĩ.<br />Duy ngã Thâm sư;		Phúc tuệ kiêm bị;<br />Đệ nhất khai sơn;		Lưu truyền hậu duệ;<br />Thuỳ phạm tương lai;		Thuật sự kế chí;<br />Bách thế vu tư; 		        Hữu long vô thế;<br />Tự dĩ vĩnh tồn;			Minh đồng đới lệ.<br /><br />Đại Minh Chính Thống bát niên, tuế thứ Quý Hợi mạnh hạ Phật đản nhật khai sơn. Trụ trì sa môn Trí Thâm lập thạch.<br /><br />Cẩm y xá nhân Chu Hưng thuyên. <br /><b><br /><br />Dịch:</b><br /><br />Bài văn bia ghi lại việc sắc ban biển đề Tú Phong Tự<br /><br />Chính nghị Đại phu, Tư trị doãn Công bộ Tả thị lang, Lê Trừng người Giao Nam soạn.<br />Tướng sĩ lang, Hồng Lô tự Tự ban, Quý Thuần người Quát quận viết chữ.<br />Văn lâm lang, Đại Lý tự Hữu tự Hữu bình sự – Trang Sâm ở Thanh Nguyên viết chữ triện trán bia.<br /><br /><br />Từ kinh đô đi về phía tây thành hơn sáu mươi dặm, có ngôi chùa tên gọi Tú Phong, vốn do quan thái giám Cao Nhượng cùng với nhà sư trụ trì là Trí Thâm sáng lập lên. Trí Thâm là bậc danh tăng ở Giao Nam vốn người họ Ngô, từ nhỏ đã xuất gia, khắc khổ học hỏi. Năm Mậu thân niên hiệu Tuyên Đức (1428) sư đến Bắc Kinh, ngẫu nhiên gặp đại quốc sư giảng kinh ở ti Tăng lục, có các ngài Nguyệt Công, Luật Thiếp biết đến. Lại nhân các ông Nghĩa Ô, Hiển Toản, Thắng Nạp, Lý Thiền, Nhẫn Tam đều là những người có tình đồng hương mà đắc lễ. Đại pháp sư là bậc Tây thiên Phật tử có lòng quảng thiện bao trùm bèn truyền cho tâm ấn và trụ trì ở chùa Đại Giác trên núi Dương Đài. Thường ngày sư đọc hết kinh Đại Tạng, suốt thời gian dài không xuống núi, giới hạnh rất tinh nghiêm, mọi người đều kính ngưỡng. <br /><br />Một hôm, sư chống gậy dạo bước lên phía bắc chùa chừng 3 dặm đến sườn núi Tú Phong, trông thấy cảnh trí đẹp đẽ, hình thế như rồng cuộn hổ nằm, vách đá chon von vây bọc quanh phía sau, bên phải bên trái hai dòng suối nối dòng ở trước mặt, cỏ cây mươn mướt, hoa quả tốt tươi, ý chẳng phải nơi phàm địa. Sư bèn hỏi thăm các bậc già lão, thì thấy bảo: các cụ già truyền lại đất này vốn là nơi chùa thiêng ngày xưa. Trí Thâm vui sướng nghẹn ngào nguyền sẽ khôi phục lại nơi đất thánh. Cao công nghe được mừng lắm, bèn ra sức phát tâm, dốc hết tiền của đứng ra làm chủ công đức, cùng với thái giám Trần Ngang, trung quý Hoàng Hùng, Nguyễn Phúc Thâm, Phạm Giác Thọ, Bùi Hỉ, Kim Toả (Đáo?), Nguyễn Giác Mục, Trịnh Trí Quảng, Châu Phổ Minh, Trương Phúc Sơn, …cùng bỏ tiền riêng giúp sư xây dựng đạo trường để cầu chúc thiên hạ thái bình, đức vua muôn tuổi.<br /><br />Sư bèn dụng tâm sắp đặt, bố trí quy mô, tự mình chăm chỉ tân cần để làm gương cho môn đồ, sắp đặt tiền gạo dồi dào để thợ thuyền kéo đến. Thế là từ mùa xuân năm Quý sửu niên hiệu Tuyên Đức (1433) bắt đầu khởi tạo, đến mùa đông năm Đinh tỵ niên hiệu Chính Thống (1437) thì xong, chưa tới năm sáu năm mà sơn môn chất ngất, điện vũ nguy nga, màu son chói lọi, kim bích lung linh, tường hoa quanh co, toà ngang dãy dọc, phàm những nơi thường phải có thì chỗ nào chỗ ấy đều đầy đủ. Thái giám Trần Ngang, Nguyễn Tông lại quyên góp gia tư, để in ấn Đại Tạng kinh, đầy đủ hộp tủ nghiêm trang lưu giữ ở trong chùa để lưu truyền mãi mãi. Sư (Trí Thâm) vẫn thường qua lại xem đọc luôn luôn để khuyến khích mọi người cùng chăm chỉ học tập, chuông trống hương đèn, sớm hôm tán vịnh những mong bảo hộ quốc thổ, phổ tế quần sinh. <br /><br />Đến ngày 21 tháng Ba năm Chính Thống thứ 6 (1441), thái giám Cao Nhượng thực tình dâng tấu lên hoàng đế, kính đội ơn vua ban cho biển ngạch đề tên “Tú Phong Tự”, khiến cho rừng núi cũng rạng rỡ, tăng tục đều mở mắt. Trí Thâm đốt hương dập đầu bảo: “May được gặp khi trong nước thái bình, nhân dân no ấm, lại nhân các ngài cùng phát thiện tâm mà giúp thành chùa phật, nên được ơn vua ân tứ, soi sáng muôn đời, há chẳng nên khắc bia mà lưu truyền mãi về sau ư?” Bèn sai đệ tử đến chỗ tôi nhờ viết văn bia. Tôi nói: “Sư Trí Thâm khó nhọc mong nên Phật sự, các ngài lại làm việc phúc để báo ơn vua, coi chỗ dụng tâm đều cùng đến nơi cực thiện, vậy xin viết bài minh rằng: <br /><br />Đồng tây Thần Châu; 		Núi dựng Tú Phong<br />Hổ ngồi rồng cuộn; 		Cảnh đẹp ẩn trong;<br />Rộng cao sáng láng;		Tú khí đúc hun;<br />Suối khe mát rượi; 		Cây cỏ tươi hồng <br />Thực nơi phúc địa;		Tựa chốn Phạn cung;<br />Phạn cung thế nào? 		Có quy có chế;<br />Điện vũ nguy nga;		Cổng tường tráng lệ;<br />Tượng phật tôn nghiêm;	Thiên thần bảo vệ;<br />Dựng cảnh là ai? 		Trí Thâm trụ trì;<br />Nào sau nào trước;		Xây đắp đủ bề;<br />Đàn việt lòng thiện; 		Giúp việc chẳng nề.<br />Cầu chúc thánh thọ; 		Phù trợ nhân dân;<br />Ruộng phúc to lớn; 		Linh hiển ra ân!<br />Chùa đã dựng được; 		Danh đã lập được;<br />Vua ban chữ vàng; 		Sủng ân chói rực;<br />Sư Trí Thâm ta: 		        Kiêm gồm phúc tuệ;<br />Đứng đầu dựng chùa;		Lưu truyền hậu duệ;<br />Làm gương đời sau; 		Thuật chuyện nối chí;<br />Trăm đời ở đây; 		Thịnh hưng vẫn để;<br />Còn mãi chùa này;		Viết minh cổ lệ<br /><br />Ngày Phật đản tháng đầu mùa hạ năm Quý Hợi niên hiệu Chính Thống năm thứ 8 (1443) triều Đại Minh. Sa môn trụ trì Trí Thâm lập bia.<br /><br />Cẩm y xá nhân Chu Hưng khắc. <br /><br /><br /><div align='right'>(Tết Trung Thu năm Mậu Tí)<br />Lê Tiến Đạt  - Hà Nội</div>]]></description>
		<pubDate>Thu, 08 Jul 2010 20:15:14 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=315</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Sài gòn - mua cọ viết thư pháp?</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=314</link>
		<description><![CDATA[Mình đang ở Sài Gòn, mà không biết ở đâu bán cọ thư pháp, mình rất thích viết thư pháp mà mua cọ ở nhà sách về viêt dở quá <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/happy.gif" style="vertical-align:middle" emoid="^_^" border="0" alt="happy.gif" />, có Bro nào biết không? Cho mình biết với nha.<br />yahoo: thientuoc88<br />Làm ơn nhắn lại dùm mình nha <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/happy.gif" style="vertical-align:middle" emoid="^_^" border="0" alt="happy.gif" />.]]></description>
		<pubDate>Sun, 20 Jun 2010 23:36:00 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=314</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Cụ nào dịch dùm em nghĩa của những từ trên bức Thư Họa này với !!!</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=313</link>
		<description><![CDATA[<br />------------------------------------------------------<br /><br /><u><i>Latopshop - Đồng hành cùng tương lai Việt</i></u><br /><br /><a href="http://www.laptopshop.vn/shop/index.php?target=categories&category_id=9" target="_blank"><u><b>Laptop Apple</b></u></a> | <a href="http://www.laptopshop.vn/shop/index.php?target=categories&category_id=5" target="_blank"><u><b>Laptop Acer</b></u></a> | <a href="http://www.laptopshop.vn/shop/index.php?target=categories&category_id=2" target="_blank"><u><b>Laptop Sony</b></u></a>]]></description>
		<pubDate>Tue, 01 Jun 2010 23:39:36 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=313</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Mời anh em viết chơi ... kỳ tiếp theo</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=312</link>
		<description><![CDATA[Tuần vừa rồi có nhận lời BM post lên sớm, song vì công cán xa nơi thâm sơn cùng cốc, bị cách biệt thông tin bên ngoài thành thử không có cách chi thượng võng, nay được 1 ngày thả rông bon bon nên tranh thủ post luôn cho kỳ này. Bài lần này là thơ của cụ Nguyễn Tiên Điền Nguyễn Du, nội dung như sau:<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>偶書公館壁</b><br /><br />朝餐一盂飯<br />暮浴一盆水<br />閉門謝知交<br />開窗見荊杞<br />窗外荊杞蔓且長<br />美人悠悠隔高牆<br />杜宇一聲春去矣<br />魂兮歸來悲故鄉<!--sizec--></span><!--/sizec--><br />	<br /><b>Ngẫu thư công quán bích</b><br />	<br />Triêu xan nhất vu phạn<br />Mộ dục nhất bồn thủy<br />Bế môn tạ tri giao<br />Khai song kiến kinh kỉ<br />Song ngoại kinh kỉ mạn thả trường<br />Mĩ nhân du du cách cao tường<br />Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ<br />Hồn hề quy lai bi cố hương<br />	<br /><br /><b>1. </b>Vẫn như kỳ trước, không hạn chế quy cách, kích cỡ, hình thức, chất liệu, thủ pháp thể hiện cũng như số lượng tác phẩm. Tuy nhiên khi đăng tải, xin ghi rõ các thông tin:<br /><br />- Tên tác phẩm:<br />- Kích thước:<br />- Chất liệu:<br />- Ý tưởng thể hiện:<br /><br /><b>2. Cách thức bình, chọn:</b><br /><br />- Theo hệ thống vote bình chọn của người tham gia và thành viên trên diễn đàn<br />- Theo bài viết đánh giá chi tiết của người tham gia và thành viên trên diễn đàn<br /><br /><b>3. Giải thưởng kỳ này:</b><br /><br />- Giải nhất: 1 thỏi mực Vạn Cổ Tâm của Thái Hòa Mặc Phường chế tạo<br />- Giải nhì: 1 cây bút đại xứ Cao Ly <br />- Giải chung: 1 chầu rượu dân tộc từ Bắc Kạn mời anh em khi tổng kết chốt<br />- Anh em nào Mạnh Thường cho giải xin cứ công cáo tại đây (<i>Hình như thầy Minh Thành có nhã ý rồi thì phải</i>)<br /><br /><div align='center'><img src="http://img413.imageshack.us/img413/4578/img7660i.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><b>4. Thời hạn</b><br /><br />- Bắt đầu sáng tác từ 31/05/2010 đến 15/06/2010<br />- Đăng tải tác phẩm từ 15/06/2010 đến 20/06/2010<br />- Bình chọn, đánh giá, chấm giải từ 21/06/2010 đến 30/06/2010<br />- Tổng kết, chốt và trao giải: 01/07/2010<br />- Bù khú một chầu 03 hoặc 04/07/2010<br /><br />Mọi ý kiến trực tiếp trao đổi, thống nhất tại đây. Kính mời !]]></description>
		<pubDate>Sat, 29 May 2010 23:21:00 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=312</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Triển lãm Thư pháp Việt với các tác phẩm Nhật ký trong tù</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=311</link>
		<description><![CDATA[Nhân dịp sinh nhật lần thứ 120 của Bác Hồ kính yêu. Clb Thư pháp Nhà Văn Hóa Thanh Niên  với nhóm các tác giả Hoàng Việt, Mỹ Lý, Minh Hoàng, Hoa Nghiêm, Chí Trọng, Nguyễn Nhỏ, Quang Lĩnh, Viết Hiếu, Thái Lộc, Thanh Tùng, Tấn Đạt, Tiến Thành, Tấn Tài. Đã cùng thực hiện các phẩm thơ trong tập thơ "Nhật ký trong tù". Với 40 tác phẩm cùng thể hiện chung một chất liệu là liễn trục với tiêu chí thân mật, đoàn kết và cùng nhau hoàn thiện con đường nghệ thuật Thư pháp chữ Việt.<br /><br />Kính mời các bạn cùng đến tham quan và thưởng thức vào ngày 16 tháng 05 năm 2010, địa điểm: phòng triển lãm  Nhà Văn Hóa Thanh Niên số 04 Phạm Ngọc Thạch.<br /><br />Triển lãm diển ra đến hết ngày 23 tháng 05 năm 2010.<br /><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=157'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=157</a><br /><br /><br />Minh Hoàng<br /><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" />]]></description>
		<pubDate>Fri, 14 May 2010 01:13:28 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=311</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thư pháp trên đá</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=310</link>
		<description><![CDATA[<img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060470.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Ký vũ tình diệc giai<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060471.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Tòng thiện như đăng<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060473.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Giang sơn đa kiều<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060475.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Lâm vũ thương sinh<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060476.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Nguyệt sắc tuyền hinh<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060479.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Ngân hà lạc cửu thiên<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060482.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Phát dục vạn vật - tuấn cực ư thiên<br /><img src="http://i148.photobucket.com/albums/s4/pak_HW/minh%20hoa/Shandong/P1060483.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Bức tiểu thảo này thì nhà cháu chịu...]]></description>
		<pubDate>Thu, 29 Apr 2010 20:55:43 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=310</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Địa chỉ mua bút lông</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=309</link>
		<description><![CDATA[Em mới tập thư pháp chữ Hán do yêu thích và đang học tiếng Nhật. Nhờ mọi người chỉ cho em mới tập Khải Thư nên dùng loại bút như thế nào (độ dài, độ nhọn đầu bút, chiều dài bút...) và các địa chỉ mua được ở Hà Nội để em có thể tìm mua. Xin cám ơn mọi người <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" />]]></description>
		<pubDate>Wed, 28 Apr 2010 08:57:38 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=309</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Phát hiện cuốn Truyện Kiều chép tay</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=308</link>
		<description><![CDATA[TTO - Chiều 14-4, ông Hồ Bách Khoa - phó phòng di sản Sở Văn hóa, thể thao & du lịch Hà Tĩnh - cho biết trong quá trình sưu tầm những văn tự cổ ở huyện Hương Sơn, nhóm nghiên cứu của phòng này phát hiện một cuốn <i>Truyện Kiều</i> viết chữ Nôm bằng tay.<br /><br />Cuốn <i>Truyện Kiều</i> do ông Đinh Công Bá (xã Sơn Diệm, huyện Hương Sơn) chép vào năm Bính Tý (1936). <br /><br />Sách có khổ 18 x 25cm với 200 trang, được viết trên nền giấy dó, bìa có màu đen, với 1.628 câu, 22.729 chữ. Mặc dù trải qua 74 năm nhưng cuốn sách được ông Bá giữ gìn chu đáo cẩn thận, đến nay vẫn còn nguyên vẹn nét chữ đẹp, rõ ràng.<br /><br /><div align='center'><img src="http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/443/411443.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Cuốn <i>Truyện Kiều</i> viết bằng chữ Hán bằng tay được phát hiện ở Hà Tĩnh</div><br /><div align='center'><img src="http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/444/411444.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Những câu Kiều được ông Bá chép bằng tay giống như chữ in.</div><br />Tác phẩm cũng được ông đối chiếu hiệu đính lại một cách công phu theo cuốn <i>Từ điển Truyện Kiều</i> của học giả Đào Duy Anh trong thời gian 10 năm (1974-1985). Đây là hiện vật quý, độc đáo còn được lưu giữ trong dân gian.<br /><br /><div align='right'>VĂN ĐỊNH - ĐÌNH THI<br />Nguồn: Báo Tuổi trẻ</div>]]></description>
		<pubDate>Tue, 27 Apr 2010 03:28:04 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=308</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thư pháp độc nhất vô nhị</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=307</link>
		<description><![CDATA[Bán một số bức thư pháp viết bằng chữ Phạn, Tây Tạng duy nhất có ở VN, không thể có bức thứ 2!!!<br /><br />khổ tranh khoảng 90x200 (cm)<br /><br />liên hệ: 0933844814, Sài Gòn.<br /><br /> <br /><br />1. Bát-nhã Tâm kinh viết bằng chữ Phạn.<br /><br />giá: 7tr<br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /> <br /><br />2. Thần chú Om mani padme hum viết bằng chữ Tây Tạng.<br /><br />giá: 2.5tr<br /><br /><br /> <br /><br />3. Một cách bố cục khác câu thần chú trên.<br /><br />giá: 3.5tr<br /><br /><br /> <br /><br />Tất cả tranh đều đã được họa sĩ Trương Lộ bồi rất đẹp.<br />]]></description>
		<pubDate>Wed, 21 Apr 2010 02:35:54 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=307</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Dăm ba câu con cóc hầu các bác thích tán dóc chè nước</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=306</link>
		<description><![CDATA[Nhân một số sự kiện mà lâu nay diễn đàn mới may mắn, quý hóa trở lại sôi nổi hẳn lên, thấy cũng mừng lây. Và rồi sau đó có nhiều chuyện vui vẻ chè nước đi theo đó nhân lúc tiết trời mưa gió thất thường thì em mới nảy ra mấy câu con cóc cũng kiểu thừa hơi buôn chuyện thế này khởi động chủ đề thư giãn cho nó bớt nghiêm túc quá đi.<br /><br />Hô hô, nay có thơ thất thiệt (quên: thất luật ạ) rằng:<br /><br />giật giật đùng đùng chửa cắt cơn<br />mưa tuôn té nước ướt dây đờn (đàn)<br />bà Phong được thể chơi cung Tốn<br />kém miếng xôi nào chực thiệt hơn<br /><br />Bà con thân bằng lối phố, có vui vẻ chè nước thì vào làm vài chén rồi tiêp mục con cóc này ạ]]></description>
		<pubDate>Tue, 20 Apr 2010 09:00:06 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=306</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Lối chữ viết đang kêu cứu</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=304</link>
		<description><![CDATA[Tiếng Phạn hầu hết thời nay còn lưu giữ ở trong các ngôi chùa là chính, các cụ ta xưa tiếp thu đạo Phật để Khuyến Thiện Trừng Ác, các văn bản cổ của các cụ ta đều viết bằng tiếng Phạn ngữ cổ, mà ngày nay chúng ta hầu như ít quan tâm đến thể loại chữ này nữa, các sư trụ trì trong các chùa cũng dần mai một, ít người đọc được thể loại này. Tiếng Phạn đang kêu cứu, nếu chúng ta không còn ai biết thể loại này nữa thì khác gì những năm 1984 đến 1987 khi hỏi về những chữ Hán câu đối , hoành phi trong các đền chùa cũng có mấy ai đọc được đâu, khiến cho nhà thơ Vũ Đình Liên thảng thốt làm ra bài thơ "Ông Đồ" một nỗi sợ hãi Thư Pháp chữ Hán bị tuyệt chủng. Cũng may có một số thày Đồ trẻ ngày nay đã tích cực học hành chữ Hán để khôi phục lại một nền văn hóa văn minh nước ta của một thời đạt lên đỉnh cao.<br /><br />     +Nhưng còn tiếng Phạn thì sao, vâng, thưa các bạn là cũng một thời tiếng Phạn lên đến đỉnh cao của xã hôi, thời Trần Lý, các công trình chùa chiền, tháp tổ khắc toàn bằng thứ tiếng này, không những thế một số hoành phi, chuông, khánh cũng có thể chữ này, nhưng ngày nay thật buồn, người xem cũng mặc kệ không mấy ai để ý đến thể loại chữ Phạn này nữa, làm nó dần dần mai một, các sư cụ biết thể loại chữ này thì đi quy ẩn giang hồ hết không còn một ai vương vấn đến nữa, tôi đã đi tham khảo nhiều những nhà sư già trong các chùa nhưng đều bị trả lời là không biết loại chữ này. Xót xa thay một thể chữ của nhà Phật ngày nay đang kêu cứu những tầng lớp trí thức, những cao nhân biết được thể loại chữ Phạn này, hãy chỉ ra cho Hậu thế những quy tắc học. Thứ nhất là học trí thức biết được tiếng Phạn cổ của nhà Phật, thứ hai để cho nó khỏi bị thất truyền đến đời Hậu sinh không còn ai biết được nó là gì nữa. <br /><br />      + Ngày nay tiếng Phạn chỉ còn được biết đến qua 6 chữ : Án Ma Ni Bát Di Hồng thông dụng mà các hàng quán thường in bùa của đức Phật bán cho mọi người mua, còn những bản khắc ván in thì sao, rất ít ai hỏi đến<br /><br />      + Liên Hoa xin đưa một số bản mà Liên Hoa sưu tầm được lên diễn đàn, kính các bậc cao nhân tiền bối đi qua nơi đây xem dùm những dòng chữ Phạn và chỉ ra cho đời sau những quy tắc đọc chữ Phạn thế nào<br /><br />        - Thứ nhất được công đức Phước Báu đối với nhà Phật<br /><br />        - Thứ hai là cho đời sau Hậu thế biết được những chữ viết của các cụ ta để lại<br /><br />Các cụ để chữ lại mà con cháu không đọc được nghĩ cũng bực lắm các bác ạ<br /><br />    + Nay Liên Hoa đưa lên một số bức tiếng Phạn được sưu tập từ những đồ của nhà chùa như Hoành Phi, Khánh, ván khắc in ấn để các cao nhân tiền bối đi qua giải dùm cho và chỉ ra cho những quy tắc đọc tiếng Phạn ngữ<br /><br /><div align='center'><img src="http://img220.imageshack.us/img220/1893/p4240012.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />@<br /><img src="http://img709.imageshack.us/img709/4428/img0836k.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />@<br /><img src="http://img256.imageshack.us/img256/773/p1210581.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />@<br /><img src="http://img62.imageshack.us/img62/2972/p1210580.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />@<br /><img src="http://img519.imageshack.us/img519/3765/p1210579.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />@</div>]]></description>
		<pubDate>Fri, 16 Apr 2010 08:03:00 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=304</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tác phẩm triện khắc danh gia Trung Quốc cận đại</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=303</link>
		<description><![CDATA[<div align='center'><img src="http://lh5.ggpht.com/_9ftF-8J8eGA/S8dbJZ48FSI/AAAAAAAAACA/U-JoD-N3FuM/s512/20090910165214818.jpg" border="0" class="linked-image" /></div>]]></description>
		<pubDate>Thu, 15 Apr 2010 13:37:11 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=303</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Hỏi về gia phả</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=301</link>
		<description><![CDATA[Nhà tôi có cuốn gia phả viết bằng cữ Hán Nôm.<br /><br />Xin các bác tư vấn về dịch và xây dựng gia phả.<br /><br />Cảm ơn! và hãy trả lời tôi với!]]></description>
		<pubDate>Wed, 14 Apr 2010 02:32:15 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=301</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Những chương trình thư pháp hướng về 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=300</link>
		<description><![CDATA[<b>1000 bức thư pháp chữ “long” cho đại lễ 1000 năm</b><br /><br />Một nghìn chữ “Long” (tức rồng) viết theo thể thư pháp bằng chữ Hán Nôm là 1.000 bức tranh ký họa về chân dung con người, đồ vật, chim nuông khác nhau, là công trình đặc biệt của thư pháp gia Lê Thiên Lý, Chủ nhiệm câu lạc bộ thư pháp Hải Phòng, muốn dâng lên Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội.<br /><br />Sau một năm nghiên cứu và một tháng miệt mài bút nghiên, đến đầu tháng Tư, thư pháp gia Lê Thiên Lý đã hoàn thành 1.000 bức họa biến hóa khôn lường liên tiếp kỳ diệu, không bức nào giống bức nào, trên khổ giấy 21x32cm. <br /><br />1.000 bức họa miêu tả con người như anh bộ đội cầm súng bảo vệ tổ quốc, là anh lính hải quân với thuyền và biển, là những sinh viên thi đỗ thủ khoa, cô gái Hà Nội; hình con rồng bay lượn, con chim, con cá, con tôm, là cây đàn, bông hoa hay là lưỡng cực âm dương.<br /><br />Ông Lê Thiên Lý tâm sự, chữ “Long” biểu tượng cho sức mạnh siêu việt, cho quyền lực, cho chiến thắng và niềm tin, chữ “Long” ấy có trong mỗi con người Việt Nam. <br /><br />Ông cho biết, qua 1.000 bức thư pháp chữ “Long," ông muốn lột tả khí lực, hào khí của ngàn năm Thăng Long đến với người dân, để mỗi người dân Việt Nam tự hào mình là “con rồng, cháu lạc," tự tin vươn lên bay cao và bay xa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.<br /><br />Thư pháp gia Lê Thiên Lý cũng đang viết dở 1.000 bức thư pháp chữ "Long" trên chiếc đĩa gốm Chu Đậu lớn nhất Việt Nam với đường kính rộng tới 1,5m cũng với ý niệm dâng lên Đại lễ ngàn năm Thăng Long-Hà Nội./.<br /><br /><b>Nguồn: </b> <a href="http://www.vietnamplus.vn/Home/1000-buc-thu-phap-chu-long-cho-Dai-le-1000-nam/20104/41152.vnplus" target="_blank">http://www.vietnamplus.vn/Home/1000-buc-th...04/41152.vnplus</a>]]></description>
		<pubDate>Wed, 14 Apr 2010 01:31:04 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=300</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Mời anh em cùng viết ... chơi</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=299</link>
		<description><![CDATA[Đã lâu lắm rồi phong trào viết khá yên ắng, nay nhân tiết mộ xuân nhớ chuyện Lan Đình. Muốn mời anh em thư pháo gia cùng tham gia viết, vừa để giao lưu, rèn rũa…và mục đích chính là …chơi ! ^^.<br /><br /><!--coloro:#A0522D--><span style="color:#A0522D"><!--/coloro-->Nội dung là bài thơ của thầy Tuệ Sỹ: “Ẩn giả tưởng”<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>隐者想</b><br /><br />小隱高山非可奇；大居鬧市也奚稀。<br /><br />絕塵籠裏真甚事；無物無人無所為。<!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><b>Ẩn giả tưởng</b><br /><br />Tiểu ẩn cao sơn phi khả kỳ.<br />Đại cư náo thị dã hề hy<br />Tuyệt trần lung lý chân thậm sự.<br />Vô vật vô nhân vô sở vi.<br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><b>Yêu cầu :</b><br /><br />•	Không hạn chế về hình thức <br />•	Kích thước không hạn chế<br />•	Không hạn chế số tác phẩm<br /><br /><b>Giải thưởng:</b><br /><br />•	Một cây bút tiểu khải<br />•	Một lọ mực Trung Hoa<br /><br />Tác phẩm sẽ được bình bầu và đánh giá theo số phiếu.<br /><br />Chơi là chính ... Anh em ai thích tham gia cùng ạ !<br /><br /><b>P/s: Gửi các anh chị em trên diễn đàn:</b><br /><br /><i>Tôi khởi xướng việc viết tác phẩm cùng chơi thế này cốt tạo không khí thực hành sáng tác mạnh mẽ hơn trên diễn đàn lâu nay vốn trầm lắng. Nội dung bài thơ của Tuệ Sỹ trên hoàn toàn không nặng nề và không đại diện cho một tư tưởng chính trị hay bàn chuyện chính trị. Giốnng như cụ Hồ viết thơ trong tù khi bị giam vì yếu tố chính trị nhưng tư tưởng thoát hoàn toàn khỏi tầm tư tưởng chính trị. Chắc không đến nỗi không nên viết thơ ông Cụ.<br /><br />Tôi và Nam Long cùng là admin xong bất đồng quan điểm về việc đưa nội dung bài thơ này của Tuệ Sỹ. Vấn đề quan điểm và hành động cá nhân xin tạm gác lại ghi các thành viên khác chưa hề có ý kiến phản đối và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi nghĩ, chúng ta hoàn không bàn chính trị, mà chú trọng việc thực hành nghệ thuật thông qua một bài thơ như nhiều nội dung khác sẽ được đưa lên lần lượt sau mỗi lần kết thúc một lần chơi. Nếu vấn đề được cho là nhạy cảm, hãy nên bàn bạc với các thành viên khác của cả ban quản trị diễn đàn.<br /><br />Vậy nên tôi vẫn post lại và khởi xướng cuộc chơi này, ai thích thì sẽ cùng tham gia viết và trao đổi, vừa để giao lưu, rèn rũa …và mục đích chính là … chơi vui vẻ! ^^.</i>]]></description>
		<pubDate>Wed, 14 Apr 2010 00:07:54 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=299</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Triển lãm nghệ thuật Thư pháp Hàn Quốc về "Nhật ký trong tù" của chủ tịch HCM]]></title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=298</link>
		<description><![CDATA[Triển lãm nghệ thuật thư pháp Hàn Quốc về tác phẩm thơ "Nhật ký trong tù" của chủ tịch Hồ Chí Minh<br /><br /><div align='center'><img src="http://sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash1/hs495.ash1/27058_1114174071128_1730240722_228220_5214591_n.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br />Xin kính mời!]]></description>
		<pubDate>Tue, 13 Apr 2010 04:37:03 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=298</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Có cụ nào đọc được chữ cổ thì dịch dùm nhà cháu 2 bức hoành phi này với!!!</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=296</link>
		<description><![CDATA[<div align='center'><a href="http://forum.thuhoavn.com/index.php?autocom=gallery&req=si&img=296" target="_blank"><img src="http://forum.thuhoavietnam.com/uploads/1236062628/gallery_73_30_13775.jpg" border="0" class="linked-image" /></a></div>]]></description>
		<pubDate>Fri, 09 Apr 2010 06:15:04 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=296</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Bút tích tiền nhân trên Hoành Phi Câu Đối cổ</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=295</link>
		<description><![CDATA[Lâu lắm rồi nhà cháu mới ghé thăm các cụ, không biết dạo này sức khỏe của các cụ thế nào nhỉ, chả là máy chủ nó hỏng nên nhà cháu hổng vào được gì cả. Nay có dịp ghé thăm các cụ, nhà cháu chụp dc vài bức Hoành Phi câu đối ở các đền chùa, miếu kính các cụ xem vui <div align='center'><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/smile.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":)" border="0" alt="smile.gif" /><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/smile.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":)" border="0" alt="smile.gif" /><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/smile.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":)" border="0" alt="smile.gif" /><br /><img src="http://img26.imageshack.us/img26/2953/p4040115.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Đây là bức viết vào thời nhà Lê, một dạng chữ rất mềm mại <br /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/mellow.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":mellow:" border="0" alt="mellow.gif" /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/mellow.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":mellow:" border="0" alt="mellow.gif" /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/mellow.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":mellow:" border="0" alt="mellow.gif" />   <br />Còn bài thơ dưới đây kính các cụ đọc giùm để anh em trên diễn đàn cùng xem ạ, kính mong các cao nhân chỉ giáo ạ!!!<br /><img src="http://img682.imageshack.us/img682/7060/gal4a1c9c02b4f23.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/mellow.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":mellow:" border="0" alt="mellow.gif" />  <br /><img src="http://img268.imageshack.us/img268/7875/gal4a1c9c3011025.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/mellow.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":mellow:" border="0" alt="mellow.gif" /> <br /><img src="http://img638.imageshack.us/img638/5883/gal4a1c9ca8db21e.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/mellow.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":mellow:" border="0" alt="mellow.gif" /> <br /><img src="http://img138.imageshack.us/img138/8871/gal4a1c9c5214e83.jpg" border="0" class="linked-image" /></div>]]></description>
		<pubDate>Thu, 08 Apr 2010 22:25:34 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=295</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Chữ "Nhương"]]></title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=293</link>
		<description><![CDATA[Em không type được chữ "Nhương" này, bác nào giúp với. Thanks!<br /><br /><img src="http://c.upanh.com//upload/4/472/LZ0.8602868_1360_1.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><img src="http://c.upanh.com//upload/4/477/5A0.8608040_1360_1.jpg" border="0" class="linked-image" />]]></description>
		<pubDate>Tue, 30 Mar 2010 00:29:31 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=293</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Chiếc ấn đồng “Lương Tài Hầu chi ấn” thời Minh Mạng</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=292</link>
		<description><![CDATA[Trong chuyến khảo sát và sưu tầm các hiện vật văn hóa của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiếp xúc được một bộ sưu tập ấn triện của một nhà sưu tập ở Thành phố Hồ Chí Minh, bộ ấn triện này có niên đại trải dài từ thời Lê sơ, Tây Sơn và nhiều nhất là thời Nguyễn với các chất liệu như ngà, đồng, gốm … Trong bộ sưu tập này phần lớn là ấn của các cơ quan hành chánh huyện, trấn, xã, ấn của các tướng lĩnh quân đội, và ấn tư nhân. Trong số đó duy nhất có một chiếc ấn tước phong, xin được giới thiệu chiếc ấn này:<br /><br /><div align='center'><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/03/andong.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br /><b>1/ Kiểu dáng:</b><br /><br />Ấn được đúc bằng đồng, gồm có hai phần (ảnh 1):<br /><br />- Núm ấn (tay cầm) dạng chuôi vồ cao 6cm, có hình bầu dục cạnh dài 2,1cm, cạnh ngắn 1,7cm lớn ở phần trên, nhỏ dần xuống và thắt lại bên dưới.<br /><br />- Thân ấn hình vuông mỗi cạnh dài 7cm, dày 1,17cm gồm có 2 mặt: mặt trên gọi là lưng ấn (tiếp giáp với núm), mặt dưới (mặt đóng xuống văn bản, giấy tờ) gọi là mặt ấn:<br /><br />- Lưng ấn: Ngay giữa là phần tiếp giáp với núm ấn. Cạnh phải và cạnh trái của lưng ấn mỗi bên khắc chìm một dòng chữ Hán theo thể chữ khải (chân phương) nét     chữ rõ, đều theo hàng dọc, đọc từ trên xuống. Cạnh phải khắc dòng lạc khoản "明命拾肆年吉月日造 - Minh Mệnh thập tứ niên cát nguyệt nhật tạo". Cạnh trái khắc dòng trọng lượng "重拾五両五錢柒分- Trọng thập ngũ lạng ngũ tiền thất phân"      (ảnh 2).<br /><br />- Mặt ấn: Có 5 chữ Hán được khắc nổi, ngược theo thể chữ triện, xếp theo 3 hàng dọc (hàng giữa 1 chữ, 2 hàng bên 2 chữ) khi in ra đọc được là "良才侯之印 - Lương Tài Hầu chi ấn"<br /><br />Nét chữ dày 0,2cm theo thể chữ triện đứng, 4 chữ ở 2 hàng bên có kích thước bằng nhau đều cao 2,6cm; ngang 1,6cm riêng chữ ở giữa lớn hơn 1,5 lần chữ bên, kích thước đo được cao 3,9cm; ngang 1,9cm. Viền mặt ấn rộng 0,8cm.<br /><br /><b>2/ Niên đại – Chủ nhân:</b><br /><br />Dựa vào dòng chữ ghi trên lưng ấn "Minh Mệnh thập tứ niên cát nguyệt nhật tạo" có thể xác định niên đại của ấn được đúc vào ngày tháng tốt năm Minh Mệnh thứ 14 - 1833 và chữ khắc trên mặt ấn là "Lương Tài Hầu chi ấn" thì rõ ràng đây là chiếc ấn của Hầu tước Lương Tài.<br /><br />Trước hết xin làm rõ tên Lương Tài Hầu.<br /><br />"Hầu": tên tước phong, là tước đứng hàng thứ hai trong ngũ tước triều Nguyễn: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Ngũ tước từ thời Minh Mệnh về sau ít dùng chỉ phong cho những người trong hòang tộc, người đã chết hay những người có huân công lớn đối với triều đình. Theo qui định triều Nguyễn việc phong tước được chia thành 2 lọai là Tôn tước và Huân tước.<br /><br />Tôn tước chỉ phong cho những người trong hòang tộc, tôn thất, họ hàng với Vua. Ở chế độ Tôn tước, còn có tước Vương, đây là tước vị cao nhất trong hệ thống tước phong triều Nguyễn. Về xét công phong tước, triều đình có qui định rõ "Phàm cho phong tước, từ tước Thân vương đến tước Hương công là dùng để phong cho hòang tử cùng các chú bác anh em họ gần, mà đã từng làm hòang tử, từ tước Huyện hầu trở xuống đều dùng để phong cho tôn thất…" (1). Khi phong tước thì kèm theo đó là sách và ấn cho người được phong tước. Tùy theo tước vị cao thấp mà ban cấp sách và ấn. Sách, ấn của Hầu tước được tập phong đều bằng bạc; ấn vuông 1 tấc 7 phân 6 ly, dày 3 phân 2 ly. Núm chạm con kỳ lân, hòm đựng ấn bằng gỗ sơn đỏ, 4 góc bịt bạc. Kiềm cái bằng ngà, hộp son bằng thiếc.(2)<br /><br />Huân tước chỉ phong cho công thần là những người có huân công, chiến công đặc biệt đối với triều đình mà không phải là tôn thất, họ hàng với vua. Ở chế độ Huân tước, tước Công là tước vị cao nhất, thường chỉ ban cho người đã chết, còn đối với người còn sống thì chỉ được phong tước Hầu trở xuống. Sự việc này, vào năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) đã được nghị chuẩn khá rõ "Con cháu công thần được nối đời tập phong tước, ấn triện đúc cấp cho đều dùng chất đồng, theo thứ bậc mà giảm bớt đi. Như ấn của tước Hầu vuông 1 tấc 6 phân 2 ly, dày 2 phân 7 ly dấu kiềm bằng ngà vuông 5 phân 4 ly…chữ triện, đều dùng tên thái ấp và tước được phong, như 5 chữ "Lương Tài Hầu chi ấn", dấu kiềm bằng ngà khắc 2 chữ "Lương Tài"". (3)<br /><br />Qua đó cho thấy ở chế độ tước phong, triều Nguyễn cũng có sự phân biệt khá rõ giữa Tôn tước và Huân tước, như ta thấy cùng  tước Hầu nhưng đối với Huân tước thì chỉ được ban cấp cho ấn đồng, núm thẳng còn đối với Tôn tước thì được ban cấp cho ấn bạc, núm chạm hình con kì lân.<br /><br />Từ đây có thể khẳng định chiếc ấn "Lương Tài Hầu" được đúc bằng chất đồng, núm thẳng là lọai ấn được ban cấp cho công thần không phải dòng dõi hòang tộc.<br /><br />"Lương Tài": chính là tên thái ấp được ban kèm với tước phong. Trong khỏang thời gian từ năm Gia Long thứ 7 (1808) đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Ấp Lương Tài là 1 trong 100 ấp thuộc Thuộc Thời Tú, Huyện Tuy Viễn, Phủ Qui Nhơn, Trấn Bình Định. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) chia đặt lại tỉnh hạt, đổi Trấn làm Tỉnh, lúc này thôn Lương Tài, Đông giáp sông, Tây giáp 3 thôn Hạo Quang, Luật Bình, Tân Mỹ, Nam giáp thôn Tân Mỹ, Bắc giáp thôn Chiêu Quang thuộc Tổng Vân Dương, Huyện Tuy Phước, Phủ An Nhơn, Tỉnh Bình Định. (4)<br /><br />Như vậy, "Lương Tài" là tên đất phong không phải tên người? Vậy Lương Tài Hầu là ai? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi lần giở những trang sử do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên sọan thấy chép "Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa xuân, tháng 3 phong tước, ấp cho các công thần. Vua bảo Nội các rằng: " ... nay được lúc nước nhà hơi rỗi, chính là lúc nên thưởng tước, đền công để đáp lại công lao đặc biệt của các công thần. Năm trước đã liệt những công thần quá cố vào hàng phối hưởng ở miếu đình, ban cho tước vương, tước công, tước hầu và đất ăn lộc tưởng đã  đủ yên ủi được vong hồn họ rồi. Nay những công thần còn ở triều đình như Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Trần Văn Năng, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Tống Phúc Lương, thự Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Phan Văn Thúy, đều là những người lập được nhiều công trạng vẻ vang ở đầu đời trung hưng. Vậy phong cho Trần Văn Năng làm Lương Tài hầu, Tống Phước Lương làm Vĩnh Thuận hầu, Phan Văn Thúy làm Chương Nghĩa hầu" (5).<br /><br />Như vậy, mùa xuân tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) 3 vị công thần là võ tướng đứng đầu 3 đạo quân lớn lúc bấy giờ là Tiền quân, Trung quân và Hậu quân được tấn phong tước Hầu. Theo quy chế triều Nguyễn, khi phong tước cho công thần thì kèm theo đó là sắc và ấn (cùng với dấu kiềm bằng ngà) cho người được phong tước. Qua đó có thể khẳng định rằng chủ nhân chiếc ấn "Lương Tài Hầu chi ấn"  được đúc vào tháng 3 năm 1833 không ai khác hơn đó chính là Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Trần Văn Năng, vị tướng có nhiều công trạng vẻ vang vào đầu thời trung hưng.<br /><br />Ông người huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa, là người khỏe mạnh và giỏi võ nghệ. Năm 1777 theo Nguyễn Ánh được bổ làm Đội trưởng, sau thăng thuộc nội Cai đội theo Lê Văn duyệt đánh giặc, lập được nhiều chiến công thăng Vệ úy. Lại theo Nguyễn Văn Thành hạ thành Bình Định được thăng Đô thống chế hậu doanh Thần Sách. Năm Gia Long thứ 8 (1809) cai quản 5 doanh quân Thần Sách đi đánh ở Gia Định. Năm thứ 11 (1812) kiêm lĩnh Phó tướng quân Chấn Vũ. Năm thứ 17 (1818) giặc cướp nổi lên ở Nghệ An, quan trấn thủ không dẹp được, ông được phái đi thay thế. Năm Minh Mệnh thứ 1 (1820) quyền chưởng Tiền quân ấn vụ, kiêm lĩnh Thị vệ đại thần đồng thời được giao trông coi việc xây cung Từ Thọ. Tháng 8, mùa thu Minh Mệnh năm thứ 4 (1823) ông lĩnh chức Phó Tổng trấn Thành Gia Định. Năm sau (1824) ông được triệu về kinh làm Thự tiền quân thống chế coi danh sách các tập ấm, anh danh. Năm thứ 7 (1826) thăng Chưởng doanh, kiêm quyền lĩnh Thương bạc, coi binh Giáo dưỡng. Năm thứ 9 (1928) quản Tào chính, rồi quyền lĩnh ấn triện Tướng quân Thống chế (6).<br /><br />Tháng 9, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) thăng thụ Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự. Tháng 3, năm sau (1833) được tấn phong làm Lương Tài Hầu; tháng sáu cùng năm, nghịch Khôi nổi lên ở Nam kỳ, Vua lấy ông sung chức Bình Khấu tướng quân cấp cho cờ và bài đi dẹp giặc. Trước khi lên đường vào Nam ông được vua ban cho một thanh gươm chuôi vàng và cho con là Phó vệ úy Trần Văn Lân đi theo. Chiến công đầu tiên của ông là phá được đồn Giao Khấu ở sông Lão Tố, Lôi Lạp. Không lâu sau nước Triêm La (nước Xiêm) xâm lấn nước Chân Lạp, rồi phạm vào biên giới nước ta, đánh chiếm Hà Tiên, Châu Đốc. Trần Văn Năng được mật dụ cùng Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân tiến quân thẳng tới Châu Đốc, đánh phá quân Xiêm ở Thuận Cảng (Vàm Nao) chém được đại đầu mục của giặc là Phi Nhã Khổ. Tháng giêng, năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) đạo quân Hà Tiên đánh lấy lại được tỉnh lỵ nhân thắng lợi, Ông đem binh thuyền thẳng thành Nam Vang đánh đuổi giặc Xiêm. Sau khi lấy lại thành Nam Vang, Trần Văn Năng bị bệnh, đem quân giao cho Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân; rồi đem thuộc hạ quay về Gia Định, đi đến Siêu Tân (ở trên Thuận Cảng thuộc phủ Tân thành, tỉnh An Giang) thì chết, thọ 72 tuổi, khi ấy là ngày Tân Mão tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 15 (11/01/1834). Việc tâu lên, Vua nghỉ triều 3 ngày, dụ rằng: "Trần Văn Năng là tướng cũ triều trước rõ rệt có công cao. Lâu năm giúp ta cũng vẫn kính cẩn giữ lòng trung hậu, nết tốt không đổi. Trước đây khâm sai coi việc quân, lại hay đem lòng địch khái, khích lệ quân sĩ, nhiều lần dâng được công to. Nay giặc Xiêm hiện đã dẹp yên, mầm giặc Phiên An chẳng mấy ngày nữa sẽ bị bắt. Công lớn sắp làm xong. Nhân vì khó nhọc chồng chất, mắc thành bệnh đến chết! Nghe tin, ta rất thương tiếc! Vậy truy tặng hàm Thái phó, tấn phong Tân Thành quận công, ban cho tên thụy là Trung Dũng, thưởng thêm cho gấm màu, nhiễu màu, sa màu mỗi thứ 10 tấm và 3000 quan tiền. Chuẩn cho tướng quân Nguyễn Văn Trọng đến tuyên dụ làm lễ tế". Rồi truyền Chỉ từ Bình Thuận trở ra Bắc theo từng địa hạt, hộ tống đi đường bộ, đưa về ngụ ở kinh đô (7). Đến Tự Đức năm thứ 10 (1857) được đưa vào thờ ở đền Hiền Lương. Sau 175 năm ngày ông mất, mộ phần của ông và vợ hiện vẫn còn ở trên núi Hòang Long thuộc thôn Thượng 2, xã Thượng Xuân, Thành phố Huế.<br /><br /><b>3/ Trọng lượng – Kích thước:</b><br /><br />Trọng lượng: Dựa vào dòng chữ ghi trên lưng ấn "Trọng thập ngũ lạng ngũ tiền thất phân" có thể xác định được trọng lượng của chiếc ấn là 15 lạng 5 tiền 7 phân. Qua đó, có thể biết được cách tính trọng lượng thời Minh Mệnh với đơn vị là lạng, tiền, và nhỏ nhất là phân (1 lạng = 10 tiền = 100 phân)<br /><br />Dưới thời thuộc Pháp cách tính trọng lượng bằng đơn vị lạng, tiền, phân này dần dần được thay thế bằng cách tính theo đơn vị mới là Kilogram (kg), gram (g) cho đến  ngày nay.<br /><br />Khi bỏ chiếc ấn này lên cân bằng đơn vị đo trọng lượng mới thì chiếc ấn này nặng 625g<br /><br />Vậy mối tương quan giữa cách đo trọng lượng theo đơn vị cũ vào thời Minh Mệnh và cách đo trọng lượng theo đơn vị mới ngày nay  như thế nào?<br /><br />Thưc tế chiếc ấn cân nặng: 625g = 15 lạng 5 tiền 7 phân. Từ đây, ta có thể tính được: lấy trọng lượng đơn vị mới là 625g chia cho trọng lượng đơn vị cũ là 15,57lạng ta được kết quả là 40,14. Theo kết quả này  thì<br /><br />1lạng  =  40,14 gð 15 (lạng) x 40,14 (g)   =  602,1g<br /><br />1 tiền  =    4,014 gð   5 (tiền) x 4,014 (g)    =     20,07g<br /><br />1 phân =   0,4014 gð  7 (phân) x 0,4014 (g) =        2,80g<br /><br />15 lạng 5 tiền 7 phân   =     624,97g<br /><br />Kích thước: Theo như Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã chép ở trên, vào năm 1833, trong phần chuẩn lời nghị của vua Minh Mệnh đối với các công thần được nối đời tập phong tước đã phân định rõ chất liệu cũng như là kích thước của ấn triện. Tùy theo tước phong lớn nhỏ mà ban cấp ấn triện cho thích hợp, như đối với tước Hầu thì được cấp ấn vuông 1 tấc 6 phân 2 ly, dày 2 phân 7 ly. Từ đây, có thể thấy được cách tính đơn vị đo lường trong giai đọan này là tấc, phân và nhỏ nhất là ly (1 tấc = 10 phân = 100 ly).<br /><br />Ở phần trên chúng tôi đã đo được kích thước của chiếc ấn theo đơn vị đo lường mới là 7cm<br /><br />Thực tế chiếc ấn đo được: 7cm = 1 tấc 6 phân 2 ly. Cũng giống như cách tính trọng lượng, ta lấy số đơn vị đo lường mới 7 (cm) chia cho số đơn vị đo lường cũ là 1,62 (tấc) ta sẽ có kết quả là  4,32.<br /><br />Theo kết quả này ta được<br /><br />1 tấc    = 4,32cm        =&gt; 1 (tấc)    x 4,32 (cm)    = 4,32cm<br /><br />1 phân = 0,432cm      =&gt; 6 (phân) x 0,432 (cm)  = 2,592cm<br /><br />1 ly      = 0,0432cm    =&gt; 2 (ly)      x 0,0432(cm) = 0,086cm<br /><br />1 tấc 6 phân 2 ly          = 7cm<br /><br />Độ dày của ấn là 1,17cm = 2 phân 7 ly<br /><br />1 phân = 0,432cm      =&gt; 2 (phân) x 0,432 (cm)  = 0,864cm<br /><br />1 ly     = 0,0432cm    =&gt;  7 (ly)     x 0,0432 (cm) = 0,302cm<br /><br />2 phân 7 ly                   = 1,17cm<br /><b><br />4/ Mối tương quan trong hệ thống ấn triện thời Minh Mệnh:</b><br /><br />Theo số liệu thống kê được,  thì ấn triện triều Nguyễn còn được lưu giữ với số lượng khá khiêm tốn, chủ yếu lưu lại hình dấu trên các văn bản giấy như châu bản, sắc, dụ, chỉ, tư, phó, bằng cấp…Ấn triện thời Minh Mệnh lại càng hiếm hoi, cho đến nay, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Hà Nội chỉ lưu giữ có 3 chiếc ấn. Chiếc thứ nhất là chiếc ấn cấp huyện, ký hiệu Lsb 2526 được đúc vào Minh Mệnh năm thứ 3 (1822) có tên là "An Lập huyện ấn". Chiếc thứ 2 ký hiệu Lsb 2528, có tên "Hưng Hóa bố chính sứ ty chi ấn" là chiếc ấn của ty Bố Chính tỉnh Hưng Hóa, được đúc vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831). Chiếc ấn thứ 3 mang số ký hiệu Lsb 2524, được đúc vào năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) có tên "Hưng Hóa phó lãnh binh quan quan phòng"  đây là chiếc ấn quan phòng của Phó Lãnh Binh tỉnh Hưng Hóa.(8). Cả 3 chiếc ấn này đều được đúc bằng đồng, núm dạng chuôi vồ, ấn thứ 1 và 2 hình vuông, ấn thứ 3 hình chữ nhật. Đặc biệt, trên lưng của 3 chiếc ấn này đều có khắc 2 dòng chữ Hán, một bên ghi niên hiệu, một bên ghi trọng lương, duy có chiếc ấn thứ nhất (1822) không ghi dòng trọng lượng thay vào đó là dòng ghi cơ quan chế tạo.<br /><br />Cùng với 3 chiếc ấn đang được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Hà Nội lưu giữ thì rõ ràng chiếc ấn Lương Tài Hầu là chiếc ấn mang tước phong duy nhất và là chiếc ấn "Hầu tước" được đúc đầu tiên để ban cho bách tánh thuộc triều Nguyễn.<br /><br />Vương triều Nguyễn, Từ khi Gia Long lên ngôi năm 1802 cho đến khi Bảo Đại trao ấn kiếm cho Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945 chấm dứt sứ mệnh lịch sử của mình, với hơn 140 năm Vương triều nhà Nguyễn đã cho đúc và ban cấp rất nhiều ấn triện từ trung ương đến địa phương để phục vụ cho việc thống trị của mình. Tuy nhiên,  việc đúc ấn triện mang tước hiệu để ban cho các công thần, tướng lĩnh chỉ bắt đầu từ thời Minh Mệnh khi mà chế độ vương quyền ngày càng được cũng cố, bộ máy tổ chức hành chánh đã dần đi vào quy cũ, các định chế, qui chế ngày càng chính qui và rõ ràng hơn, đồng thời để động viên, khích lệ các tướng lĩnh đã có công trong việc bảo vệ và cũng cố vương triều của mình. Với những qui chế thời Minh Mệnh đã được Quốc Sử Quán ghi chép lại khá rõ, có thể thấy, chiếc ấn Lương Tài Hầu là chiếc ấn "Hầu tước" đầu tiên được vua Minh Mệnh ban cấp cho công thần, tướng lĩnh cao cấp không phải là người trong hòang tộc, và được xem như là chiếc ấn mẫu đã được ghi vào sử sách, về sau khi có phong tước ban cấp ấn triện cho các công thần thì dùng nó làm chuẩn để đúc theo.<br /><br />TÀI LIỆU DẪN<br /><br /><i>1/ Nội Các triều Nguyễn 1993, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, tập 1, NXB Thuận Hóa, tr: 123.<br /><br />2/ Nội Các triều Nguyễn 1993, Sđd, tập 6, tr: 297.<br /><br />3/ Nội Các triều Nguyễn 1993, Sđd, tập 6, tr: 307.<br /><br />4/ Nguyễn Đình Đầu 1996, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Bình Định, tập 2, NXB Tp.Hồ Chí Minh, tr: 794.<br /><br />5/ Quốc Sử Quán triều Nguyễn 2007, Đại Nam Thực Lục, tập 3, NXB Giáo Dục,   tr: 486, 494.<br /><br />6/ Quốc Sử Quán triều Nguyễn 2003, Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, tập 3, NXB Thuận Hóa, tr: 253.<br /><br />7/ Quốc Sử Quán triều Nguyễn 2007, Sđd, tập 4, tr: 39.<br /><br />8/ Nguyễn Công Việt 2005, Ấn chương Việt Nam từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, NXB Khoa học xã hội, tr: 386, 422, 437.</i><br /><br /><div align='right'><b>Diệp Minh Cường, Nguyễn Văn Phẩm</b><br /><i>Nguồn: Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh</i></div>]]></description>
		<pubDate>Mon, 29 Mar 2010 22:34:03 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=292</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Một chương trình làm quen với chữ Hán & Thư pháp]]></title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=289</link>
		<description><![CDATA[Học chữ Hán, ban đầu không đơn giản. Biết chữ Hán, sơ học Thư pháp cũng không dễ. Có điều kiện đi học gặp thày gặp bạn thì quá tốt, nhưng chưa có điều kiện ấy, khi chỉ có máy tính bên cạnh thì một chương trình đơn giản sẽ giúp bạn làm quen, gần gũi hơn với những việc ban đầu ấy.<br /><br /><a href="http://home.thuhoavn.com/?dl_id=22" target="_blank">Hãy tải về phần mềm này</a>. Chương trình của bác Nguyễn Văn Trường được xây dựng thông qua quá trình trải nghiệm và thực hành thực tế của bản thân.<br /><br /><div align='center'><a href="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/03/giaodien.jpg" target="_blank"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/03/giaodien-450x354.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><br />Giao diện chương trình</div><br /><br />Học Thư pháp trên lớp 456 Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) một thời gian, tôi bắt gặp bác Trường có chương trình này. Tôi ngỏ ý xem được xem và thấy hay, gợi ý bác hoàn thiện thêm cơ bản để giới thiệu với những người yêu thích lúc còn bỡ ngỡ. Bác đã vui vẻ nhận lời. Cầm được đĩa trong tay, gửi lên đây chia sẻ cùng quý vị và các bạn, tôi cũng vui vui.<br /><br />Chương trình làm quen với chữ Hán và Thư pháp này thực sự đơn giản và dễ sử dụng như một cuốn sổ tay nho nhỏ. Nội dung cơ bản được sưu tầm, tập hợp từ nhiều nguồn trên Internet, chủ yếu thừ Mạng Thư họa Việt Nam và được sắp xếp hài hòa, dễ hiểu. File nén độ hơn trăm MB, sau khi giải nén lớn hơn một chút. Quý vị và các bạn có thể tải về tham khảo cũng thú vị.<br /><br />Không phải người chuyên làm phần mềm chuyên nghiệp, chỉ do yêu thích tự tìm hiểu mầy mò mà tạo nên bằng kiến thức còn có hạn, nhưng chí ít cũng có thể học tập, tham khảo, vui vẻ, nhẹ nhàng. Mong chớ chê cười, nhưng xin được góp ý.<br /><br />Xin chân thành cảm ơn tác giả chương trình đã hỷ xả chia sẻ cùng mọi người.]]></description>
		<pubDate>Mon, 22 Mar 2010 07:11:31 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=289</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Bia Hùng Vương từ khảo - bản dập</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=288</link>
		<description><![CDATA[<div align='center'><img src="http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/2010/03/17/02/24801268811841.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br /><b>KHẢO VỀ ĐỀN HÙNG VƯƠNG</b><br /><br />Đền Hùng Vương là nơi thờ các vị vua thời Hồng Bàng tối cổ trong lịch sử nước Việt ta.<br /><br />Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung).... See More<br /><br />Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước.<br /><br />Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng.<br /><br />Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có.<br /><br />Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ).<br /><br />Trước đây, ngày quốc tế(3)­ lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ 2 (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có tờ tư xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ vua Hùng đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng 3) do dân sở tại làm lễ.<br /><br />Lưng chừng núi có ngôi chùa cổ, tên là chùa Thiên Quang, năm Tự Đức thứ 3 (dương lịch là năm 1850), Hình bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Giai nhân thấy chùa cũ nên cho trùng tu, đến năm Khải Định thứ 9 (dương lịch là năm 1924), Tuần phủ Lê Vân Đỉnh(4) lại cho tu bổ chùa.<br /><br />Dưới chân núi, về hướng Nam có một ngôi miếu thờ hai vị công chúa: một vị tên là Tiên Dung công chúa, con vua Hùng Vương đời thứ ba (vua gả cho Chử Đồng Tử); một vị tên là Ngọc Hoa công chúa, con vua Hùng đời thứ 18 (vua gả cho Cao Sơn Thần núi Tản Viên Ba Vì Sơn Tây).<br /><br />Đến năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), miếu Giếng được trùng tu. Đến năm Bảo Đại thứ 10 (dương lịch là năm 1925) lại được tu bổ.<br /><br />Lập bia ngày mồng 10 tháng 3 năm Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940) triều Nguyễn.<br /><br />Tham tri, lĩnh chức Tuần phủ Phú Thọ là Bùi Ngọc Hoàn soạn.<br />Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2008<br /><br /><div align='right'>Người dịch: <b>Nguyễn Hữu Mùi</b><br /><i>Cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm</i></div><br /><br /><b>Chú thích:</b><br /><br />(1) Tam Tuyên: gồm Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang;<br />(2) Tư: Một loại giấy tờ tương tự như công văn dùng trong các Bộ, ngành hiện nay;<br />(3) Quốc tế: ngày tế do nhà nước đứng ra tổ chức<br />(4) Lê Vân Đỉnh: theo cách ghi này có lẽ đây là vị họ Lê, tên hiệu là Vân Đỉnh<br /><br /><i>Nguồn trích dẫn: <a href="http://www.facebook.com/profile.php?id=1730240722" target="_blank">Thiên Hỏa's Facebook</a><br />Nguồn ảnh: <a href="http://photo.zing.vn/photo/gallery/detail.12731528.html" target="_blank">Thiên Hỏa</a></i>]]></description>
		<pubDate>Fri, 19 Mar 2010 02:20:37 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=288</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Triển lãm và giao lưu Thư pháp Hàn Quốc - Việt Nam 2010</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=287</link>
		<description><![CDATA[<div align='center'><img src="http://profile.ak.fbcdn.net/object2/1105/54/n368596400285_4382.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><ul><li>Đơn vị tổ chức: Hội Thư pháp Jeju Hàn Quốc và CLB Unesco Thư pháp Việt Nam</li><li>Địa điểm: Phòng triển lãm số 1 và 2 của Trung tâm văn hóa Jeju tỉnh Jeju Hàn Quốc </li><li>Thời gian: Từ 29/04/ - 03/05/2010.</li><li>Tác phẩm: Hàn Quốc 100, Việt Nam 50 tác phẩm</li></ul><br />Cuộc triển lãm lần này nối tiếp sự giao lưu, suy quảng văn hóa nước nhà đặc biệt là Thư pháp với Hàn Quốc và cũng là lần chính thức đầu tiên CLB Unesco Thư pháp Việt Nam cùng các thành viên đưa tác phẩm ra triển lãm tại nước ngoài.<br /><br />Mọi thông tin chi tiết sẽ tiếp tục được cập nhật]]></description>
		<pubDate>Tue, 16 Mar 2010 00:25:58 -0500</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=287</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tìm địa chỉ viết chữ Thư Pháp</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=286</link>
		<description><![CDATA[xin chào tất mọi người<br />bạn mình có đi chợ phủ dầy vụ bản xin được một tranh thư pháp chữ quốc ngữ mình thấy rất đẹp mình muốn đến xin 1 bức nhưng ko biết địa chỉ người viết chỉ thấy dấu đỏ trên bức tranh là <!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->Tiến Hưng<!--colorc--></span><!--/colorc--><br />rất mong các bạn có ai biết địa chỉ của nhà thư pháp này xin chỉ dùm<br />cảm ơn mọi người]]></description>
		<pubDate>Wed, 10 Mar 2010 22:34:46 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=286</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tập vẽ</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=285</link>
		<description><![CDATA[Nhà Khách con vốn là người Công giáo, thấy người ta vẽ Chúa bằng tranh sơn dầu là nhiều. Một hôm mới cả gan cầm bút lông thể hiện Chúa.<br /><br />Có chỗ nào còn chưa được, mong quý tiên sinh bao hiềm mà chỉ dạy. Thật lòng cảm ơn<br /><br /><div align='center'><img src="http://up.anhso.net/upload/20100306/19/o/anhso-41_BA0_6673125_1_1.jpg" border="0" class="linked-image" /></div>]]></description>
		<pubDate>Sat, 06 Mar 2010 06:29:26 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=285</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Địa CHỉ học Thư Pháp</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=284</link>
		<description><![CDATA[Chào tất cả các bác<br />Em ở nam định rất muốn học viết chữ thư pháp quốc ngữ nhưng không biết tại nam định có chỗ nào dạy không rất mong các bác có bác nào biết địa chỉ dạy tại Nam Định xin chỉ giùm và nơi bán các đồ dùng cần thiết cho việc học nhé<br />Xin cảm ơn các bác]]></description>
		<pubDate>Fri, 05 Mar 2010 08:57:00 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=284</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Studio-lhmc</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=283</link>
		<description><![CDATA[<a href="http://img194.imageshack.us/i/dsc01199cz.jpg/" target="_blank">http://img194.imageshack.us/i/dsc01199cz.jpg/</a>]]></description>
		<pubDate>Tue, 02 Mar 2010 03:45:12 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=283</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Khai bút đầu Xuân</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=282</link>
		<description><![CDATA[Nhân ngày Nguyên Tiêu đúng cuối tuần rỗi rãi, nhà cháu phá 1 tờ Xuyến (được cho từ lâu), mong các cụ đại xá ...<br /><br /><div align='center'><img src="http://i141.photobucket.com/albums/r51/zhouhaitang/Tap%20Viet/yen.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br />Chép 1 bài Nhất thất lệnh cũ:<br /><br /><div align='center'>Yên<br />Mạn dã; Phù xuyên<br />Tân sương hậu; Tịch dương tiền<br />Tình phiêu cô nhạn; Ý động hàn thiền<br />Tuyết sắc tùy chinh lữ; Quế ảnh vũ nga tiên<br />Giang ngạn lô hoa diểu diểu; Mạch đầu liễu diệp miên miên<br />Vạn lý quan san tình bất tận; Nhất thời quang cảnh tứ vô biên</div><br /><br /><br /><div align='center'><img src="http://i141.photobucket.com/albums/r51/zhouhaitang/Tap%20Viet/VVSD.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><br />VĂN VẬT SỞ ĐÔ</div>]]></description>
		<pubDate>Sun, 28 Feb 2010 20:47:35 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=282</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Nhờ xem chữ khắc trên dấu cổ</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=279</link>
		<description><![CDATA[Kính nhờ các bậc cao minh: giải nghĩa giúp những chữ khắc trên con dấu này.<br /><br />Trân trọng cảm ơn.<br /><br />Nguyễn Việt Phương <br />(tỉnh Tây Ninh)]]></description>
		<pubDate>Sun, 21 Feb 2010 04:46:26 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=279</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Bia Hòa Vang nghĩa trủng</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=277</link>
		<description><![CDATA[Nghĩa trủng Hòa Vang là một nghĩa trang lớn được lập tại Hòa Vang theo sắc tứ vua ban để quy tụ hài cốt các  tướng sĩ vì nước quên thân trong cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược năm 1858. Ban đầu nghĩa trủng được lập ở Trũng Bò làng Nghi An, nay thuộc phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ.  Khoảng năm 1920, Pháp mở Sân bay Đà Nẵng, nghĩa trủng phải dời về vườn Bá làng Khuê Trung. Đến 1962, quân đội Mỹ mở rộng sân bay về phía Nam, lại phải dời nghĩa trủng đến chỗ hiện nay, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.<br /><br /><div align='center'><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/02/hoa-vinh-nghia-trung-325x500.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Bia Hòa Vinh nghĩa trủng</div><br />Phía trước nghĩa trủng hiện còn một tấm bia sa thạch được lập từ năm Tự Đức thứ 19 (1866) với 4 chữ Hán đại tự “Hòa Vinh nghĩa trủng” (xem ảnh trên), cho thấy lúc lập bia (1866) nơi đây gọi là Hòa Vinh, về sau mới đọc trại thành Hòa Vang.<br /><br />Chính văn cũng như lạc khoản trên tấm bia viết rất thuần, được khắc khá tinh tế, bắt được thần thái của chữ nên dù trải qua năm tháng vẫn còn lưu dấu phong khí thời kỳ hoàn thiện nhất về kỹ pháp của Thư pháp triều Nguyễn. Nét chữ phảng phất bút ý, tinh thần của của Vương Hy Chi trong Thánh giáo tự. Xét ở góc độ, giao lưu học tập thư pháp với Trung Hoa, điều ấy chứng tỏ việc viết lách rất có căn bản, có tông có sư chứ không như thời kỳ sau này khi lịch sử biến động, việc ấy đã không còn được duy trì và gần như biết mất một thời gian dài, chỉ còn được nhìn thấy ở một vài cây viết cổ điển trong độ chục năm trở lại đây. Sự bảo tồn và duy trì và phát huy mỹ học thư pháp cổ điển chính tông trong thời đại mới còn nhiều vấn đề bàn cãi. Tạm thời chỉ có thể nói rằng, vẫn phải giữ lấy cái gốc làm căn bản. Quan điểm mỗi khác, nhưng nên biết rằng:<br /><br /><div align='center'>Trăm năm bia đã cũng mòn<br />Ngàn năm đại tự vẫn còn trơ trơ</div><br /><br /><br /><div align='right'>Nguồn ảnh: Báo Đà Nẵng</div>]]></description>
		<pubDate>Thu, 04 Feb 2010 03:32:37 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=277</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Nho moi nguoi giup</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=276</link>
		<description>em o vtv4, dang muon lam mot phong su ve mot lop day thu phap cho nguoi nuoc ngoai o ha noi nhung chua tim duoc lop nao. bac nao biet thi chi cho em voi. em xin cam on</description>
		<pubDate>Tue, 02 Feb 2010 22:46:10 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=276</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Triển lãm - Sắp đặt "Vô ngôn" nhóm thư pháp tiền vệ Zenei gang of five]]></title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=275</link>
		<description><![CDATA[THÔNG CÁO BÁO CHÍ<br /><br />TRIỂN LÃM - SẮP ĐẶT “VÔ NGÔN”<br />NHÓM THƯ PHÁP TIỀN VỆ ZENEI GANG OF FIVE<br /><br /><br />Nhân dịp tết Canh Dần, kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long Hà Nội, Art Việt Nam Gallery (số 07 Nguyễn Khắc Nhu, Hà Nội) tổ chức triển lãm sắp đặt mang tên “Vô ngôn” của nhóm Thư pháp Tiền Vệ Zenei Gang of Five (gồm Lê Quốc Việt, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Đức Dũng, Phạm Văn Tuấn, Trần Trọng Dương) từ mùng 04 tháng 02 đến mùng 05 tháng 3 năm 2010.<br /><br />Đây là triển lãm tiếp nối ý tưởng lấy chữ Nôm làm bản vị tính cho văn hóa Việt Nam trong đời sống hiện tại. Như chúng ta hiện biết chữ Nôm là văn tự duy nhất do chính người Việt tự tạo trong suốt 4000 năm lịch sử. Chữ Nôm ra đời cách nay quãng 1000 năm, song hành với nền độc lập tự chủ của văn hóa Đại Việt mà tiêu biểu trong đó là văn hóa Thăng Long. Những bài phú Nôm bất hủ của vua Trần Nhân Tông, sư Huyền Quang, hay thơ Nôm Hàn Thuyên, Chu Văn An, Nguyễn Trãi…chính là những viên gạch đầu tiên và quan trọng nhất cho một nền văn hiến dân tộc. Tuy nhiên, từ năm 1945 trở lại đây, chữ Nôm (cũng như chữ Hán) đã trở thành những văn tự chết. Có thể coi, đây là sự đứt gãy về văn hóa lớn nhất trong lịch sử, không phải bởi tha nhân ngọai quốc nào mà chỉ là sự chọn lựa của chính chủ thể văn hóa.<br /><br />Nhóm thư pháp Tiền vệ Zenei Gang of Five vốn là những người trẻ tuổi mà Hán hay Nôm đều đã nằm lòng. Càng có khả năng kết nối với quá khứ thì lại càng thấy lạc lõng trong thế giới hiện tại. Càng biết nhiều thì càng thấy là không thể nói những cái biết ấy cho người khác hiểu được. Sự bất lực trong ngôn từ, sự thất bại trong việc hòa nhập của từng thân phận với xã hội đã tạo nên những dồn nén nội tâm. Sự bùng phát của nhóm trong hai năm trở lại đây khi chuyển từ thư pháp cổ điển sang thư pháp Tiền vệ có thể coi là động thái văn hóa chuyển từ lĩnh vực thư pháp truyền thống sang nghệ thuật đương đại. Ban đầu, chữ Hán và chữ Nôm được coi như là chất liệu để tạo nên những tác phẩm trang trí hay trừu tượng. Và khi sự trừu tượng hóa trở nên lấn át hình thể con chữ, thư pháp không còn dùng để đọc nữa mà chỉ còn là cái cớ để cảm nhận về cái đẹp và hơn hết là sự cảm nhận và biểu đạt về cuộc sống. Đến triển lãm lần này, văn tự hầu hết đã bị vứt bỏ. Sáng tác không chỉ khuôn trong việc dụng bút viết chữ. Viết hay không viết đều là cách để tạo ra những đường nét không lời.<br /><br />Ở chiều kích lịch sử, vô ngôn là sự bất lực của người Việt trước di sản văn hóa quá khứ. Sự thực là, từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, người Việt Nam đã đoạn tuyệt với hai thứ văn tự truyền thống, được dùng trong suốt 2000 năm trước đó. Cũng từ đây, người Việt gần như hoàn toàn bất lực trước di sản thư tịch, văn hiến của cha ông [“Văn hiến文獻” gồm VĂN (chữ) và HIẾN (chủ thể tạo nên văn hóa thành văn, người hiền tài).]<br /><br />Vô ngôn còn là một thái độ ứng xử. Với tư cách là những trí thức, mỗi thành viên đều nhận thức được sự bất lực của lực lượng này trong xã hội hiện nay. Chức năng phản tư để điều chỉnh xã hội không thể thực hiện được với nhiều nguyên nhân chủ - khách quan khác nhau. Sự bất lực trong ngôn thuyết và nhận thức rõ về sự bất lực ấy đã dẫn đến nhiều cách thức hành xử khác nhau. Kẻ bất đắc chí thì nói năng càn rỡ hay chửi đổng để xả bớt những đè nén nội tâm và những khát vọng bị vùi dập bấy lâu nay. Nhưng, chửi đổng đi chăng nữa thì cũng chỉ là những phát ngôn vô tác dụng. Một số không nhỏ trí thức bị “lưu manh hóa”, quay sang a dua với các thế lực lưu manh nọ, khốc liệt hơn họ quay lại thanh trừng những kẻ “khác máu” và thanh trừng lẫn nhau. Một số ít phần tử chuyên chính đành chui vào tháp ngà của trí tuệ, lấy khoa học làm chỗ dung thân. Tựu chung, họ chia thành hai nhóm, một nhóm cấm sự phát ngôn và dập vùi phản tỉnh. Và một nhóm bất lực - vô ngôn. Xét ở góc độ nào đó, vô ngôn là một thái độ. Hoặc là biết thừa nhưng không thèm nói. Hoặc là biết quá nhưng không thể nói được. Vô ngôn vừa là bất hợp tác, vừa là một cách để “nói” một cách tích cực. Giống như việc Đạo giáo tránh đời để dung dưỡng cái thiên chân; các nhà Nho quy ẩn để giữ đạo; đó không phải là một hành vi yếm thế mà là một động thái chính trị tích cực. Tiết tháo và đạo đức của họ được nhìn nhận như là một giá trị đối lập với các thế lực trần tục vẫn đang luẩn quẩn trong vòng mũ áo.<br /><br />Một thực tế khác, những sản phẩm được viết ra từ cái tháp ngà khoa học danh giá và cao sang đã nhắc đến ở trên kia có thể coi là sản phẩm của sự không nói được và sự không được nói. Hàng chồng các luận án luận văn bảo vệ xong đành bỏ xó trong thư viện. Sách vở xuất bản ra cũng chỉ để trên giá sách hay làm mồi cho đám đầu nậu đi buôn trên sự còm cõi của tri thức. Sự phong tỏa tính năng phản tỉnh chính là một cách “bê tông hóa” tri thức. Và tháp ngà khoa học thực tế đã biến thành nấm mồ sống của những thân phận bế tắc. Con người sống trong các khối bê tông vô cảm. Những cái đầu bị đóng băng, những tư tưởng bị đóng băng, những phát kiến bị đóng băng, những ngôn từ bị đóng băng…<br /><br />Như thế, cái trạng thái vô ngôn vẫn là một sự đối lập với trạng thái phát ngôn. Nhưng hàm ý trong sự vô ngôn ấy khác với người xưa nhiều lắm. Triết học nào cũng có cách vô ngôn của riêng mình. Và phải chăng, thời đại nào cũng có thái độ vô ngôn của thời đại ấy?<br /><br />Triển lãm thư pháp và sắp đặt Vô ngôn lần này là dạng bút đàm “tự ngôn tự ngữ” về văn hóa dân tộc. Nguyễn Quang Thắng thực thi ghi chép, ken đặc đến mức trở thành…phi văn bản. Nguyễn Đức Dũng trăn trở với vài con chữ, nhưng những loang chảy ánh sáng trong từng nét bút khiến tác phẩm đạt đến ngưỡng…giải văn tự. Phạm Văn Tuấn vẫn bảo lưu cách viết, song đã trừu tượng hóa hoàn toàn. Trần Trọng Dương hướng đến sự triệt bỏ nhân vi, xóa sạch nét bút, cực đoan đến mức “vô thư vô pháp”. Có thể nói, nội hàm tác phẩm chấp chới bằng tính biểu trưng của các phù hiệu học ngôn ngữ và các yếu tố phi phù hiệu học. Trong khi đó, sắp đặt của Lê Quốc Việt quay lại cách sao chép chữ Hán Nôm truyền thống. Những trích đoạn văn tự trên đĩa gốm được kết hợp lại thành một bức thư pháp lớn có chuyển động và phát ra âm thanh, tạo nên sức sống giả cho những con chữ đã chết. Từng tiểu văn bản có thể đọc được, nhưng ghép lại thì vô nghĩa, không có tiếng nói và phi định tính. Thêm nữa, các quả bóng sứ lăn ngẫu nhiên trên mặt gương tạo thành vô số huyễn ảnh văn tự. Những ống phướn chứa đầy ánh sáng, buông trên nghĩa địa sách đã bê tông hóa, có thể coi đó như là sự phóng chiếu không lời về linh hồn của những chủ thể văn hóa xưa cũ…<br /><br />40 tác phẩm tĩnh và 5 tác phẩm sắp đặt trong triển lãm Vô ngôn lần này hy vọng khai quật trong trầm tích tri thức quá khứ cũng như ngay trong đời sống thực tại những giá trị nhân bản, ngõ hầu kiến giải và phát lộ nó theo một chiều kích tích cực như một sự tái đầu thai các giá trị văn hóa vào trong đời sống hiện đại.<br /><br /><a href="http://moderncalligraphy.vn/vi/index.html" target="_blank">http://moderncalligraphy.vn/vi/index.html</a>]]></description>
		<pubDate>Wed, 27 Jan 2010 07:22:14 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=275</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Nhờ các bác giúp đỡ em!</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=274</link>
		<description><![CDATA[<!--coloro:#0000FF--><span style="color:#0000FF"><!--/coloro--><b>Em mới tham gia nên còn nhiều bỡ ngỡ. Mong các bác giúp đỡ em giải nghĩa câu đối sau được không ạ:</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><div align='center'><b>Bách kế bất như nhân đức thiện<br />Thiên kim mạc nhược tử tôn hiền</b></div><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--coloro:#0000FF--><span style="color:#0000FF"><!--/coloro--><b>Cám ơn các bác đã giúp đỡ</b><!--colorc--></span><!--/colorc-->]]></description>
		<pubDate>Fri, 22 Jan 2010 21:41:29 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=274</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tuyển tập câu đối chơi Tết</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=273</link>
		<description><![CDATA[Năm ba ngày gửi mười đôi một, lâu lâu cóp nhặt lại gửi lên chơi<br /><br />春風送暖燕剪柳<br />飛雪迎春蝶戀花<br /><br />浩蕩東風萌萬物<br />淋漓春雨發千花<br /><br />一漲溪水餘清氣<br />滿院春風散異香<br /><br />千條綠柳迎春舞<br />滿樹紅梅帶雪開<br /><br />千嶺梅花回暖意<br />一江綠水送春潮<br /><br />白雪紅梅增畫意<br />青山綠水動詩情<br /><br />耀眼圖書詩畫裡<br />宜心春色畫中詩<br /><br />春情寄語千條柳<br />世第流芳萬卷書<br /><br />雪消門外千山綠<br />花發江邊二月晴<br /><br />梅花樹上春風暖<br />桂子叢中時雨新]]></description>
		<pubDate>Mon, 18 Jan 2010 20:59:54 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=273</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thư pháp Minh Hoàng Xuân 2010</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=272</link>
		<description><![CDATA[<b>Màu sắc và cảm nhận của tôi về mùa xuân thông qua đường nét, đôi lúc tôi muốn chính mình mạnh mẽ giữa gió xuân phơi phới nhưng cũng tận hưởng cái nhẹ nhàng uyển chuyển của không gian chuyển mùa... Đây là những sáng tác trong mùa Xuân Canh Dần 2010:<br /><br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/xuan-minhhoangthuphap.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Xuân an lành<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/loc-minhhoangthuphap.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Lộc giữa mùa xuân...<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/phuc-minhhoang.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Phúc viên mãn...<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/chuTam.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><br />Tác phẩm: Tứ thời tâm...<br />Kích thước:40x90 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/loc-minhhoangthuphap01.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Lộc cả ngày đêm...<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/tam-minhhoangthuphap.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Suối tâm- tình...<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/maudon-minhhoangthuphap.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Hoa tím mùa xuân<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/phucloctho.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Phúc Lộc Thọ<br />Kích thước:40x90 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/chuNHAN.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Nhẫn và nhận...<br />Kích thước:40x90 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><br /><br />Minh Hoàng<br /><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /><br /></b>]]></description>
		<pubDate>Wed, 13 Jan 2010 23:56:20 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=272</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Font chữ Thư pháp tổng hợp</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=270</link>
		<description><![CDATA[Tổng hợp 163 font Thư pháp (Hán 75% - Nôm 1% - Quốc Ngữ 24%) do Xuân Như sưu tầm và đang sử dụng, nay chia sẻ cùng quý vị và các bạn. Riêng đối với font thư pháp chữ Hán, đủ các loại Triện, Lệ, Thảo, Chân, Hành phỏng lối viết các thư pháp gia nổi tiếng, cùng các font trang chí nhiều kiểu dành cho chế bản, thiết kế, báo chí, tiêu đề, khẩu hiệu, in ấn, tham khảo học tập. Tổng dung lượng sau khi giải nén tương đương 615 MiB ~ 1 đĩa CD. Khuyến cáo nên dùng các công cụ tải chuyên dụng.<br /><br />Dung lượng file nén: 349,8 MiB - cập nhật ngày - 26/12/2009<br /><br />Tải về tại đây: <b><a href="http://home.thuhoavn.com/?dl_id=20" target="_blank">Tổng hợp 163 font Thư pháp Hán - Nôm - Quốc Ngữ</a></b><br /><br />Còn rất nhiều nữa, sẽ dần dần bổ sung sau tiếp. Ai có xin cùng chia sẻ cho bà con cùng sử dụng.<br /><br />Chân thành cảm ơn!]]></description>
		<pubDate>Fri, 25 Dec 2009 11:22:38 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=270</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Một tiệm mồi biểu "thủ công" ở Bắc Kinh]]></title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=269</link>
		<description><![CDATA[<div align='center'>Địa chiểm chúng tôi đi xem bồi biểu "thủ công" tọa lạc sau tòa nhà này ở ngoại ô Bắc Kinh<br /><br /><img src="http://i12.photobucket.com/albums/a235/xuannhuy/Boi%20bieu/m0-guoyuan.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Nghệ nhân bồi biểu trẻ giới thiệu sơ qua về cách thức phun ẩm, gia nhiệt, là phẳng giấy, tranh trước khi bồi<br /><br /><img src="http://i12.photobucket.com/albums/a235/xuannhuy/Boi%20bieu/asian-art-mounting-press.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Và đo đạc cẩn thận<br /><br /><img src="http://i12.photobucket.com/albums/a235/xuannhuy/Boi%20bieu/asian-art-press.jpg" border="0" class="linked-image" /></div>]]></description>
		<pubDate>Tue, 22 Dec 2009 20:04:20 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=269</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tập viết...câu đối</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=268</link>
		<description><![CDATA[Trúc nhân hư thụ ích<br />Tùng dĩ tịnh diên niên <br /><br /><a href="http://photo.zing.vn/photo/gallery_preview/allsize.11069143.html" target="_blank"><img src="http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/12/22/09/97861261490831.JPG" border="0" class="linked-image" /></a>]]></description>
		<pubDate>Tue, 22 Dec 2009 08:08:13 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=268</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thơ chữ Hán viết về Thăng Long – Hà Nội</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=267</link>
		<description><![CDATA[<b>Huyền Quang (1254-1334)</b> <br /><br />Tên thật là Lý Đạo Tái, người làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lang Giang (nay là huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Giang). Năm 19 tuổi, ông đỗ khoa tam giáo đời Trần, rồi về đi tu ở chùa Quỳnh Lâm (Hải Dương). Năm 1330, sư Pháp Loa đem y bát của Điều ngự giác hoàng (tức vua Trần Nhân Tông) truyền cho, giao lại cho Huyền Quang trước khi mất. Huyền Quang lên tu ở núi Yên Tử và là tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.<br /><br /> <b>Diên Hựu tự</b>[1]<br /><br /> Thượng phương thu dạ nhất chung lan,<br /> Nguyệt sắc như ba phong thu đan<br /> Si vẫn đảo miên phương kính lãnh[2],<br /> tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn<br /> Vạn duyên bất nhiễm thành già tục<br /> Bán điểm vô ưu nhãn giới khoan.<br /> Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,[3]<br /> Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.<br /><br /> <i><b>Dịch: Chùa Diên Hựu</b></i><br /><br /> <i>Đêm thu một tiếng chuông tàn,<br /> ánh trăng như sóng lá bàng nhuộm son.<br /> Chim thú ngủ ngược gương vuông,<br /> Tháp vươn đôi búp tay thon lạnh ngời<br /> Thành che bụi tục nhiễm đời,<br /> Không lo, tầm mắt con người rộng ra.<br /> Coi thị phi ngang bậc mà<br /> Cung ma nước Phật khéo là tương quan.</i><br /><br /> <b>Phạm Sư Mạnh (khoảng 1300-1360)</b><br /><br /> Người làng Hiệp Thạch, huyện Hiệp Sơn (nay thuộc tỉnh Hải Dương) học trò Chu An. Đậu Thái học sinh trong khoảng đời Trần Minh Tông. Năm 1323 bắt đầu vào triều. 1345 được cử làm sứ giả đi biện luận với nhà Nguyên về chuyện “Cột đồng”. 1346 giữ chức Chưởng bạ thư kiêm khu mật tham chính. 12 năm sau được thăng đến chức nhập nội hành khiển trí khu mật viện sự.<br /><br /> <b>Đề Báo Thiên tháp</b>[4]<br /><br /> Trấn áp đông tây củng đế kỷ,<br /> Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy.<br /> Sơn hà bất động kình thiên trụ,<br /> Kim cổ nan ma lập địa chuỳ.<br /> Phong bãi chung linh thời ứng đáp,<br /> Tinh di đăng chúc dạ quang huy.<br /> Ngã lai dục thử đề danh bút,<br /> Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.<br /><br /> <i><b>Dịch: Đề tháp Báo Thiên</b></i><br /><br /> <i>Trấn đông tây, giữ đế kinh,<br /> Cao cao ngọn tháp vươn mình lên không.<br /> Cốt chống trời vững non sông,<br /> Chày dựng đất mãi mãi không tiêu mòn.<br /> Gió xao hoạ tiếng chuông hồn,<br /> Sao dời, đèn đuốc đêm luôn rực hồng<br /> Qua đây hứng bút đang nồng.<br /> Chiếm sông xuân hoá nên lòng nghiên thơ.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Phi Khanh (1355-1428)</b><br /><br /> Tên thật Nguyễn ứng Long, vốn người xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Dương) sau dời về xã Ngọc ổi, (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Đậu thái học sinh (tiến sĩ) năm 1374 nhưng không được bổ dụng. Mãi sau khi nhà Hồ lên thay nhà Trần mới được cử làm Học sĩ Viện Hàn lâm rồi lần lượt thăng lên Thông chương đại phu, Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh (1406-1407) cùng với vua tôi nhà Hồ, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt đem về Kim Lăng. Hai con ông Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Hùng định đi theo phụng dưỡng cha, ông khuyên Nguyễn Trãi trở về phục thù và báo hiếu cho cha bằng con đường cứu nước.<br /><br /> <b>Thu thành vãn vọng</b><br /><br /> Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,<br /> Tà dương trao địa tiệt vấn yên.<br /> Ly hồng viễn viễn nghinh phong trận,<br /> Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền<br /> Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm<br /> Nhân sinh vạn sự lão kham liên<br /> Binh qua huống phục điêu tàn hậu,<br /> Dao vọng tình mân nhất khái nhiên.<br /><br /> <i><b>Dịch: Trên thành ngắm cảnh chiều thu</b></i><br /><br /> <i>Kinh thành tháng chín lá rơi,<br /> Bóng tà chụp đất tơi bời khói mây<br /> Chim hồng đón gió trận bày,<br /> Trăng treo khe cửa xuyên cây cách hàng<br /> Thu dễ cảm, hứng ngâm tràn<br /> ở đời muôn việc, đáng than tuổi già.<br /> Huống điêu tàn sau can qua,<br /> Nhìn trời quang tạnh bao la, ngậm ngùi.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Trãi (1380-1442)</b><br /><br /> Người xã Ngọc ổi (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) nhưng sinh ở Thăng Long trong dinh của ông ngoại là Tư đồ Trần Nguyên Đán. Năm 1400 đỗ Thái học sinh dưới triều Hồ được trao chức Ngự sử đài chánh chưởng. Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược, được trao chức nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư, quản công việc ở Viện khu mật. Sau khi kháng chiến thành công, được ban họ vua và được ban tước Quan phục hầu. Năm 1442, do vụ án oan Lệ Chi Viên, bị tru di tam tộc. Năm 1464, Lê Thánh Tông Lên ngôi rửa oan cho ông, truy phong ông chức Đặc tiến kim tử vinh tộc đại phu, tước Tán trù bá.<br /><br /> <b>Tức sự</b><br /><br /> Tiểu tiểu hiên song nuỵ nuỵ lư,<br /> Quan cư đốn giác loại u cư.<br /> Thương ba giang thượng nhàn thuỳ điếu,<br /> Lục thụ âm trung tĩnh khán thư.<br /> Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,<br /> Phong lai tuyết lãng vũ đình trừ.<br /> Ngọ song tiêu sái vô trần luỵ,<br /> Nhất phiến nhàn tâm nhiếp thái hư[5].<br /><br /> <i><b>Dịch: Ghi việc</b></i><br /><br /> <i>Nhà lè tè, hiên tẻo teo,<br /> Dinh quan có khác chi lều ẩn đâu.<br /> Khi nhàn sông biếc buông câu,<br /> Tĩnh ngồi đọc sách xanh màu bóng râm<br /> Tạnh mưa cửa lọt hơi lam,<br /> Thềm sân bông tuyết múa mang gió vần.<br /> Êm song trưa, sạch luỹ trần,<br /> Một lòng thanh rúng động tầng thái hư.</i><br /><br /> <b>Ninh Tốn (1743 – ?)</b><br /><br /> Người làng Côi Trì (nay là xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Đậu tiến sĩ năm 1778, được bổ Thừa chính sứ. Năm 1788, làm Hữu thị lang bộ Công, kiếm bộ Lễ, tước Trường nguyên bá. Nhà Lê mất, ông ra làm quan với triều Tây Sơn, đến chức Thượng thư bộ Binh, tước hầu.<br /><br /> <b>Hoè Nhai</b>[6]<br /><br /> Liễu mạch hoa cù nhân tận giai,<br /> Phong lưu toàn chiếm độc Hoè nhai.<br /> Kiều nhiên bách mị khoa xuân thái.<br /> Uyển chuyển tân thanh não khách hoài.<br /> Hoa đố chu nhan đăng hạ lạc,<br /> Oanh hoà trâm hưởng hạm tiền thôi.<br /> Tầm thường vị phóng thiên kim tiếu,<br /> Trực thị vương tôn đái tửu lai.<br /><br /> <b><i>Dịch: Hoè Nhai</i></b><br /><br /> <i>Đường hoa ngõ liễu người xinh,<br /> Phong lưu chiếm hết riêng dành Hoè Nhai<br /> Yêu kiều trăm vẻ khoe tươi,<br /> Tiếng ca réo rắt não người lắm phen<br /> Hoa ghen má, rụng dưới đèn,<br /> Oanh hoà phách gõ trước hiên rộn ràng.<br /> Mua cười ai bỏ nghìn vàng,<br /> Đợi vướng tôn tới rượu mang đầy vò.</i><br /><br /> <b>Đoàn Nguyễn Tuấn (1751 – ?)</b><br /><br /> Người làng Hải An (nay là xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông có thi đỗ hương cống có lẽ vào đời Cảnh Hưng nhưng không làm quan cho triều Lê. Năm 1788, dường như ông cùng với một số nho sĩ vào Nam yết kiến Nguyễn Huệ và được vị thủ lĩnh quân Tây Sơn trao cho chức Trực học sĩ Viện Hàn lâm. Sau chiến thắng Đống Đa, năm 1790 ông được Nguyễn Huệ lúc bấy giờ là vua Quang Trung, cử đi sứ trong phái bộ của Phan Huy ích, khi về được phong Tả thị lang bộ Lại tước Hải phái hầu.<br /><br /> <b>Tây Hồ cán ti</b><br /><br /> Dâm Đàm thuỷ sắc chính liên y,<br /> Kiều thương quan hoàn cán trạc thì.<br /> Thái triệt long oa[7] phô luyện chử,<br /> Cẩm hồi thước phố dục hà ky[8]<br /> Tàm tang sinh lý thân thường khiết,<br /> Tích lịch kỳ phương[9] thủ bất qui.<br /> Hà xứ sương chân hàn đảo nguyệt,<br /> Sầu nhân thanh đáp cán hồ ti.<br /><br /> <i><b>Dịch: Chuội tơ ở Hồ Tây</b></i><br /><br /> <i>Hồ Tây sắc nước gợn lăn tăn,<br /> Cầu tựa xem phường chuội sợi săn.<br /> Màu thấu hang Rồng phô bến lụa,<br /> Gấm vây bãi Thước giặt doành Ngân.<br /> Tằm tang lẽ sống, thân thường sạch.<br /> Sấm sét phương hay, tay chẳng sần.<br /> Đâu chốn chày sương đang nện nguyệt<br /> Chuội tơ đáp lại tiếng bâng khuâng.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Du (1755-1820)</b><br /><br /> Quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh và sống thời niên thiếu ở Thăng Long, trong nhà thân phụ là Nguyễn Nghiễm, Tham tụng Xuân quận công triều Lê. Năm 1784 đậu tam trường. Năm 1786, Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du chạy về quê vợ ở xã Quỳnh Côi, huyện Hải An, tỉnh Thái Bình. Năm 1796 trở lại quê nhà. Năm 1802 ra làm quan với nhà Nguyễn, trải qua các chức tri huyện Phù Dung, tri phủ Thường Tín, Tham tri làm việc ở Nội các, Cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 được thăng hàm Cần chính điện học sĩ, làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 trở về, từ ấy làm quan ở kinh cho đến lúc mất. Ngoài thơ chữ Hán ông còn có tác phẩm Nôm nổi tiếng như Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh…<br /><br /> <b>Thăng Long (kỳ nhất)</b><br /><br /> Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng,<br /> Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.<br /> Thiên niên cự thất thành quan đạo,<br /> Nhất phiến tân thành một cố cung.<br /> Tương thức mỹ nhân khan bão tử,<br /> Đồng du hiệp thiếu tận thành ông.<br /> Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ,<br /> Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.<br /><br /> <i><b>Dịch: Thăng Long</b> (bài 1)</i><br /><br /> <i>Sông Lô núi Tản y nguyên,<br /> Bạc đầu còn được ngắm nhìn Thăng Long<br /> Nhà lớn cũ; đường cái chồng,<br /> Một toà thành mới, dấu cung xưa mờ.<br /> Người đẹp quen, ẵm con thơ<br /> Bạn chơi hồi trẻ bây giờ lão ông.<br /> nao lòng, đêm thức chong chong<br /> Véo von tiếng tiếng địch lồng ánh trăng</i><br /><br /> <b>Trần Bá Lãm (1757-1815)</b><br /><br /> Người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm (nay thuộc ngoại thành Hà Nội) đậu nhị giáp tiến sĩ chế khoa năm 1787, làm quan đến Đô cấp sứ trung, đốc đồng Hải Dương. Nhà Lê mất, đến đời Gia Long (1802-1820) ông làm đốc học Bắc Ninh. ông có viết tập thơ La Thành cổ tích vịnh về những di tích cổ của Thăng Long – Hà Nội, ở đây trích hai bài:<br /><br /> <b>Ngọc hồ tự</b><br /><br /> Địa bất Bồng lai ẩn trích tiên[10],<br /> Y hi hoàn bội bãng hoa biên.<br /> Đại hưng môn ngoại tiên tung diểu,<br /> Nan mịch Đào nguyên nhận túc duyên[11].<br /><br /> <i><b>Dịch: Chùa Ngọc hồ</b></i><br /><br /> <i>Đất chẳng Bồng lai náu trích tiên,<br /> Bên hoa văng vẳng xuyến vòng rền.<br /> Đại hưng ngoài cửa tiên mờ dấu<br /> Khó kiếm nguồn Đào nhận túc duyên.</i><br /><br /> <b>Nhị Trưng từ</b><br /><br /> Gia cừu quốc hận cảm thâu sinh,<br /> Lực vẫn sơn hà tỉ muội binh.<br /> Lãng bạc thảo hoa trường đới lệ,<br /> Thiên thu kỳ tiết bại do vinh.<br /><br /> <i><b>Dịch: Đền Hai Bà Trưng</b></i><br /><br /> <i>Hận nước thù nhà, trộm sống sao?<br /> Chị em dấy nghĩa cứu đồng bào.<br /> Cỏ hoa lãng bạc tuôn nguồn lệ<br /> Bại đấy mà vinh, tiết mãi lưu.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Văn Siêu (1795-1872)</b><br /><br /> Người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, sau di cư ra ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội (nay là phố Nguyễn Siêu). Đậu phó bảng năm 1838, làm quan đến án sát Hưng Yên. Năm 1849, được cử làm phó sứ sang Trung Quốc, sau bị giáng xuống Hàn lâm thị độc, ông cáo quan về ở phường Dũng Thọ, mở trường Phương đình dạy học, học trò theo học rất đông. Ông là người đứng ra tu bổ chùa Ngọc Sơn, dựng đình Trấn ba, cầu Thê Húc, tháp Bút, đài Nghiên.<br /><br /> <b>Thưởng Ngọc Sơn tự chung lâu</b><br /><br /> Lão ông giải cấu cộng huề châu,<br /> Loạn đả lâu chung hoán thượng lâu<br /> Nhân ngữ trà yên thiên bán lạc,<br /> Thuỷ quang vân ảnh toạ trung phù.<br /> Tà tà phi điểu qua cao thụ,<br /> Cổn cổn tình văn điệp tế lưu<br /> Bất vị di nhàn yên chí thử,<br /> Giang san mạc thác cổ kim sầu.<br /><br /> <i><b>Dịch: Lên lầu chuông chùa Ngọc Sơn</b></i><br /><br /> <i>Gặp ông già rủ ghé xuồng,<br /> Giục lên lầu, nện chuông buông đổ hồi.<br /> Khói trà tiếng nói lưng trời,<br /> Bóng mây ánh nước chỗ ngồi nổi quanh.<br /> Tà tà chim lướt qua cành,<br /> Sóng lăn tăn gợn vòm xanh làu làu;<br /> Không cầu vui ai đến đâu,<br /> Non sông xin chớ gợi sầu cổ kim.</i><br /><br /> <b>Cao Bá Quát (1809-1855)</b><br /><br /> Người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Đậu cử nhân năm 1831, năm 1840 được bổ làm hành tẩu bộ Lễ. Năm 1841, được cử làm sơ khảo trường thi Thừ Thiên, do lòng mến tài, ông đã cùng với Phan nha dùng bút thấm muội đèn chữa cho 24 quyển khá. Việc lộ ra, ông bị giam vào ngục. Cuối năm 1842, ông bị ghép vào đoàn tàu đi các nước Malaixia, Xinggapo, Inđônêxia làm công việc mua hàng cho vua để chuộc tội. Năm 1847 ông được triệu về Huế, bổ vào Viện Hàn lâm làm biên tập các vần thơ ca. Năm 1852 ông buộc phải rời kinh đi làm giáo thụ phủ Quốc Oai. Năm 1854 ông cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Tháng giêng năm 1855, Cao Bá Quát chết trận.<br /><br /> <b>Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà, đồng Di Xuân, Hoà phủ</b><br /><br /> Tài thu tế vũ hựu vi phong,<br /> Độc ỷ thương mang mộ khí trung<br /> Tế bắc sơn liên bình dã hợp,<br /> Trực nam vân nhập đại hoang không.<br /> Thành y Long đỗ kiêm thiên tráng,<br /> Lãng quyển đào hoa sánh địa hồng.<br /> Hao hao quầnh kim cổ ý,<br /> Thử thân hà sự tác thi ông.<br /><br /> <i><b>Dịch: Thứ vận thơ Thận Tư, phóng tầm mắt nhìn sông Nhị, cùng Di Xuân, Hoà phủ</b></i><br /><br /> <i>Mưa bụi dứt, gió nhẹ lan,<br /> Một mình tựa bóng chiều man mác nhìn.<br /> Mạn Bắc đồng hợp núi liền,<br /> Phía nam mây tản nhập miền hoang vu.<br /> Thế hùng Long đỗ trời cho,<br /> Hoạ đào sóng cuốn đất phô đỏ ngời.<br /> ý kim cổ núi sông khơi,<br /> Thân này sao hoá ra người làm thơ.</i><br /><br /> <b>Miên Thẩm (1819-1870)</b><br /><br /> Con thứ mười của vua Minh Mệnh, được phong tước Tùng Thiện Vương. Là một ông hoàng lớn lên trong cung điện nhưng ông rất yêu nông thôn, tự ông làm ruộng, khai mương và vận động các ông hoàng bà chúa khác làm theo. Thơ ông chứa chan lòng yêu nước, luôn gắn chặt với thiên nhiên và con người lao động. Khi Pháp xâm lược nước ta, ông làm thơ ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu và bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.<br /><br /> <b>Du Trấn Vũ quán</b>[12]<br /><br /> Cao lâu độc thướng tứ đê hồi<br /> Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi.<br /> Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt,<br /> Tàn bi vô tự toả thương đài.<br /> Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại,<br /> Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi.<br /> Chỉ thặng Tây hồ vân thái hảo,<br /> Tuỳ phong do phất hoạ liêm lai.<br /><br /> <i><b>Dịch: Chơi quán Trấn Vũ</b></i><br /><br /> <i>Lầu cao bịn rịn đứng cô liêu<br /> Chuông lạnh đưa chiều giữa quạnh hiu<br /> Cây cổ có cành trăng đậu tối,<br /> Bia tàn không chữ dấu phong rêu<br /> Tượng đồng bao thuở còn sừng sững,<br /> Cửa tía năm đời nửa lở xiêu.<br /> Chỉ sót hồ Tây mây ráng đẹp,<br /> Phất phơ theo gió động mành treo.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Tư Giản (1823-1890)</b><br /><br /> Người làng Du Lâm (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Đậu tiến sĩ năm 1844, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lại, Thị lang bộ Hộ. Năm 1881, cáo quan hưu trí. Sau chuyến sang sứ Trung Quốc, ông cùng các nhân sĩ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Bùi Viện dâng sớ lên Tự Đức để trình một chương trình canh tân đất nước, nhưng không được chấp nhận.<br /><br /> <b>Hiếm hồ kỷ du</b><br /><br /> Lan nhiêu vi yết tịch dương tà,<br /> Thị ái hồ quang thị ái hoa.<br /> á thuỷ sổ chi hồn nhập hoạ,<br /> ỷ sơn cô các tự phù gia.<br /> Trúc âm hưởng ngạn dao tình nguyệt,<br /> Đăng ảnh thiên môn đái lạc hà.<br /> Tửu bãi hồi xa kham trướng vọng,<br /> Thanh phong vô lực tải tỳ bà.<br /><br /> <i><b>Dịch: Ghi cuộc chơi hồ Gươm</b></i><br /><br /> <i>Cành lan mềm níu ánh tà,<br /> Bởi yêu hồ sáng yêu hoa nặng tình.<br /> Nhánh nước toả tự trong tranh,<br /> Gác dựa non gợi chênh vênh nhà sàn.<br /> Trúc lay bóng nguyệt bờ vang,<br /> ánh đèn nghìn cửa cõng làn ráng sa<br /> Tiệc tàn xe chuyển trông ra,<br /> Gió không chở nổi tỳ bà ngân rung.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Khuyến (1835-1909)</b><br /><br /> Người thôn Vi Hạ, xã Yên Đổ (nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Năm 1864 đậu Giải nguyên, năm 1871 đậu Hội nguyên và Đình nguyên, lần lượt trải qua các chức Nội các thừa chỉ, Sử quán toản tu, Đốc học rồi án sát Thanh hoá, Biện lý bộ Hộ, Bố chính Quảng Ngãi, năm 1879 bị đàn hại phải về kinh, lại làm Toản tu ở sử quán. Năm 1883 được thăng Quan lộc tự Khanh. Khi quân Pháp chiếm được cả nước ta, ông đang dưỡng bệnh ở quê, được cử ra làm quyền Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên nhưng ông cương quyết từ chối, sống cảnh bần hàn ở quê Yên Đổ suốt hơn hai mươi năm trời.<br /> Giáp Thân Trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô[13]<br /><br /> Thập niên thử địa thử trung thu,<br /> Thành quách y y cảnh dĩ thù.<br /> Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận,<br /> Tố quan thanh cái tạp thuỳ ngô.<br /> Tô giang hữu hận đào thanh cấp.<br /> Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô.<br /> Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm,<br /> Thi ông tằng ức cựu du phù?<br /><br /> <b><i>Dịch: Cảm nghĩ nhân dịp tiết trung thu năm Giáp Thân (1884) ở Hà Nội, viết gửi bạn đồng niên là ông cử nhân họ Ngô</i></b><br /><br /> <i>Mười năm trước cũng trung thu,<br /> Thành xưa nguyên đó, cảnh giờ khác xa.<br /> Đèn hồng nến bạch lập loà,<br /> Dù xanh mũ trắng tây ta lộn ngầu.<br /> Sông Tô sóng hận dồn mau,<br /> Núi nùng trơ mảnh trăng thâu vô tình.<br /> Cấm đi đêm lệnh nghiêm minh,<br /> Nhà thơ còn nhớ cuộc mình chơi xưa?</i><br /><br /> <b>Dương Khuê (1839-1902)</b><br /><br /> Người làng Vân Đình (nay là xã Dương Đình, huyện ứng Hoà, thành phố Hà Nội). Đậu Tiến sĩ năm 1868, sơ bổ Tri phủ Bình Giang (Hải Dương) rồi thăng Bố chánh. Trước tình thế giặc Pháp xâm chiếm đất nước ta, ông dâng sớ bàn phải quyết chiến, không nên nhượng đất cho giặc, vua Tự Đức phê “Bất thức thời vụ”, bị giáng chức làm Chánh sứ Sơn phòng, điều hành việc khai hoang, sau đó được thăng Đốc học Nam Định rồi Bố chánh. Đời Thành Thái, ông làm Tổng đốc Nam Định – Ninh Bình, về hưu được tặng thêm hàm Thượng thư bộ Binh. Cuối đời ông đi vào con đường thoát ly hưởng lạc.<br /><br /> <b>Hà thành Trung thu tiết</b><br /><br /> Phong tĩnh hà minh mộ vũ hưu,<br /> Giang thành triệt dạ tễ quang phù<br /> Khí đặng thu hạ xa tranh đạo,<br /> Hoàn kiếm hồ biên nguyệt quải lâu<br /> Thế sự như kỳ vô định cục,<br /> Suy niên tá tửu mạn tiêu sầu.<br /> Nhi đồng tham trục ngư long hý,<br /> Bất kế sơn hà dĩ bán thu.<br /><br /> <i><b>Dịch: Trung thu ở Hà Nội</b></i><br /><br /> <i>Gió lặng mưa tan ráng ửng màu,<br /> Thành sông tạnh sáng suốt đêm thâu.<br /> Dưới cây đèn điện xe tranh lối,<br /> Bên cạnh hồ Gươm nguyệt rủ lầu,<br /> Sự thế như cờ chưa dứt cuộc<br /> Tuổi già mượn chén tạm khuây sầu.<br /> Trẻ con mê mải trò rồng cá,<br /> Chẳng kể sơn hà nửa nhuốm thu.</i><br /><br /> <b>Nguyễn Thuật (1842 – ?)</b><br /><br /> Người làng Hà Lam (nay thuộc xã Bình Nguyên, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Đậu Phó bảng năm 1868, làm quan đến chức Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh chức Thượng thư bộ Binh và giảng sách tại toà kinh diên. Từng làm Chánh sứ sang Trung Quốc.<br /><br /> <b>Đăng Hà Nội thành kỳ đài</b><br /><br /> Bách trượng bàn không thanh đắc tà,<br /> Cao lăng bích lạc đãng vân hà.<br /> Lâu đài tần tác đương song tận,<br /> Trần cấu vô lao cử phiến già.<br /> Nhị thuỷ phong phàm phiên điệp sĩ,<br /> Kiếm hồ tự tháp dũng liên ba.<br /> Đăng lâm hà sự sinh sầu tứ,<br /> Thương hải hung hoài mi hữu nha (nhai)<br /><br /> <b><i>Dịch: Lên Cột cờ thành Hà Nội</i></b><br /><br /> <i>Vút trăm trượng, bậc đá lên,<br /> quét ráng mây sừng sững trên nền trời.<br /> Thấy từng cửa sổ lâu đài,<br /> Quạt che bụi bậm trần ai khỏi cầm.<br /> Buồm sông Nhị: cánh bướm dăng<br /> Tháp chùa hồ Kiếm sóng lừng bè sen.<br /> Lên chơi đừng để sầu nhen,<br /> Dẫu lòng biển rộng bên ven có bờ.</i><br /><br /> <b>Chu Thấp Hi (cuối thế kỷ Xĩ đầu thế kỷ XX)</b><br /><br /> Người Đào Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Đậu cử nhân, từng đoạt giải cuộc thi Vịnh Kiều của tao đàn Hưng Yên năm 1905 về thơ chữ Hán, cùng với Chu Mạnh Trinh đoạt giải về thơ Nôm.<br /><br /> <b>Vịnh Hà Nội Văn Miếu thập cảnh thi (tuyển nhị thủ)</b><br /><br /> <b>Bi đình thạch triện</b><br /><br /> Long bàn phượng vũ mặc ngân lưu,<br /> Phiếu diểu vân yên tứ diện phù.<br /> Minh thế văn chương, Yên Hứa bút[14]<br /> Cô đình phiến thạch túc thiên thu.<br /><br /> <i><b>Dịch: Thơ vịnh mười cảnh Văn miếu Hà Nội (chọn hai bài)</b></i><br /><br /> <b><i>Chữ khắc đá ở nhà bia</i></b><br /><br /> Nét tươi phượng múa rồng bay<br /> Nổi nênh bốn mặt khói mây bời bời.<br /> Bút Yên Hứa, văn giúp đời,<br /> Ngàn thu tấm đá đình côi đủ truyền.<br /><br /> <b>Thạch khánh hoà minh</b><br /><br /> Khuê lâu trần tĩnh nguyệt quang thâm,<br /> Phũ thạch thanh cao vạn lại trầm.<br /> Ti trúc thiên thu dư vận tại,<br /> Khanh khanh từ hoạ bích gian âm.<br /><br /> <i><b>Dịch: Khánh đá hoà âm</b></i><br /><br /> <i>Gác Khuê bụi sạch trăng tà,<br /> Trong cao tiếng đá, gần xa lặng trầm<br /> Trúc tơ dường vẳng dư âm,<br /> cách tường lanh lảnh thơ ngâm hoạ cùng.</i><br /><br /> <b>Chú thích:</b><br /><br /> <i>[1] Chùa Diên Hựu xây dựng năm 1049 dựa theo một giấc chiêm bao của vua Lý Thái Tông. chùa dựng trên một cột đá giữa hồ nước rộng tượng trưng cho một đoá hoa sen, nên thường gọi là chùa Một Cột.<br /> [2] Tác giả ví mái chùa với tấm gương lạnh, phản chiếu bóng tượng chim thú (trong thần thoại ấn Độ, trang trí ở chùa) ngủ ngược đầu.<br /> [3] Theo quan điểm triết học Phật giáo, phải coi hình tướng mọi sự vật một cách bình đẳng (ngang hàng) với nhau, để khám phá bản thể của nó, không cố chấp giáo điều, thành kiến, vì vạn vật có mối tương quan.<br /> [4] Tháp Báo Thiên vốn có tên là tháp Đại Thắng Tư Thiên, ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên 9ở khu vực nhà thờ lớn ngày nay), xây năm 1057 trên một gò đất cao bên cạnh hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm) gồm 12 tầng, cao vài chục trượng (khoảng 80m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Tháp bị sập năm 1547.<br /> [5] Thái hư: tầng cao nhất trên chín tầng trời.<br /> [6] Hoè Nhai có nghĩa là Đường Hoè, tức là con đường mà hai bên vệ trồng rặt một loài cây hoè. Con đường này dẫn từ bến Đông Bộ đầu (nay là chỗ dốc Hàng Than) vào phía Bắc Hoàng thành. Thời Lê nơi này mang tên phường Hoè Nhai, có nhiều ca nữ hát với nhịp phách cung đàn, là một chốn phong lưu của kinh thành Thăng Long, thời đó. Đời Nguyễn đổi tên là phường Giai Cảnh (tương ứng với địa bàn các phố Hoè Nhai, Hàng Than, Nguyễn Trường Tộ… hiện nay).<br /> [7] Long oa: hang Rồng. Người xưa cho rằng dưới vùng nước sâu rộng là hang ở của rồng, rồi từ đó nâng lên là “Long cung” (Cung điện của Thuỷ tề Long vương).<br /> [8] Hà ky: dịch thoát là doành Ngân. Vì trong câu thơ còn có từ Thước phố (bến Thước) cho nên có lẽ tác giả muốn dùng điển “chim Ô Thước bắc cầu qua sông Ngân hà” để hàm ý Chức nữ dệt gấm.<br /> [9] Tích lịch kỳ phương: Sấm sét phép lạ: ý nói tiếng đập lụa vang lên như sấm sét.<br /> [10] Trích tiênị đầy xuống trần.: tiên b<br /> [11] Túc duyênối duyên từ kiếp trước.: m<br /> [12] Quán Trấn Vũ ở vên Hồ Tây, thường gọi là đền Quan Thánh, thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ thần trấn trị phương Bắc.<br /> [13] Cử nhân Ngô: tức là ông Ngô Văn Dạng, người làng Kim Cổ, huyện Thọ Hương (Hà Nội), đỗ cử nhân đồng khoa hương với Nguyễn Khuyến.<br /> [14] Yên Hứa bút: những người thư pháp giỏi ở Trung Quốc thời xưa.</i><br /><br /> <b>Hoài Anh</b><br /> Nguồn: hoinhavanvietnam.vn]]></description>
		<pubDate>Mon, 21 Dec 2009 06:17:12 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=267</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Sử dụng kỹ thuật và hiệu quả trong sáng tác Thư pháp</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=266</link>
		<description><![CDATA[Một tác phẩm Thư pháp được gọi là thành công, ngoài công phu nghệ thuật và nội hàm tư tưởng còn có sự đóng góp không nhỏ của sự vận dụng các kỹ thuật, kỹ xảo đặc biệt có thể ứng dụng trong sáng tác. Các kỹ thuật ấy được vận dụng nhằm để đạt được những hiệu quả nghệ thuật nhất định trong những trường hợp cụ thể mà trong điều kiện bình thường không thể có được. Đó là một điều rất đáng được chú ý trong đời sống mới của nghệ thuật Thư pháp. Sở dĩ các tác phẩm Thư pháp của phái Tiền vệ và phái Thiểu tự Nhật Bản cũng như trường phái Thư pháp hiện đại Trung Quốc có được một sức hấp dẫn mới, nhất định đối với người xem bởi vì chúng đã được vận dụng một loạt các kỹ thuật đặc biệt ở tần suất cao trong suốt quá trình sáng tác.<br /><br />Tuy nhiên, một điều cần nhấn mạnh là dù vận dụng bất kỹ kỹ thuật đặc biệt nào cũng không nên đi ngược lại hay phá vỡ nguyên tắc tổng thể của việc sáng tác Thư pháp, bởi như thế tác phẩm trình bày sẽ không còn là Thư pháp nữa, mà có thể là đang vẽ tranh (chuyển thành sáng tác hội họa) hoặc làm ngụy Thư pháp, hay làm một cái gì đó khác. Ví dụ, đặc trưng lớn của Thư pháp mà ta có thể nhấn mạnh ở đây là hiệu quả nghệ thuật chính từ việc sử dụng bút lông và mực Tàu chủ yếu trên chất liệu giấy Dó, giấy Tuyên, cho nên kỹ thuật cơ bản ở đây trên ba phương diện là kỹ thuật dùng bút (bao gồm lấy mực, vận bút), dùng mực (bao gồm mực đậm, nhạt; dùng thêm rượu, keo, phèn; và kết hợp màu sắc), và dùng giấy (bao gồm dùng giấy sống, giấy chín, vò nhăn, gấp giấy).<br /><br /><i>Còn tiếp...</i>]]></description>
		<pubDate>Fri, 18 Dec 2009 01:18:21 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=266</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Đàn chỉ loạn Chương</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=265</link>
		<description><![CDATA[<br />Loạn chương pháp tèn tén ten ồ ria <br /> <img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/laugh.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":lol:" border="0" alt="laugh.gif" /> <br /><br /><br />Sơ sơ<br /><br /><a href="http://photo.zing.vn/photo/gallery_preview/allsize.10981386.html" target="_blank"><img src="http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/12/18/12/83861261112841.JPG" border="0" class="linked-image" /></a><br /><br /><a href="http://photo.zing.vn/photo/gallery_preview/allsize.10981390.html" target="_blank"><img src="http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/12/18/12/46021261112856.JPG" border="0" class="linked-image" /></a>]]></description>
		<pubDate>Thu, 17 Dec 2009 23:31:26 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=265</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Tỉnh Thượng Hữu Nhất lâm Nhan Khải</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=263</link>
		<description><![CDATA[Thế này thì các cụ Sen Khoai Rễ Củ Lê Lí Lựu nhà ta chửi chio chit hí hí<br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=130'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=130</a><br /><a href='http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=131'>http://forum.thuhoavn.com/index.php?act=attach&type=post&id=131</a>]]></description>
		<pubDate>Tue, 01 Dec 2009 10:27:12 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=263</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thư pháp Minh Hoàng năm 2009</title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=262</link>
		<description><![CDATA[Đây là những giây phút đẹp trong cuộc sống mà tôi cảm nhận được, thông qua ngòi bút những dòng chảy và đường nét như muốn thể hiện cái mỹ trong cái nhìn của chính tôi, đường nét cảm xúc và cảm nhận cuộc sống chính là điều tôi muốn thể hiện. Sau đây là vài tác phẩm trong năm nay:<br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/antrongnhuson-minhhoangthuphap.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Ân trọng như sơn<br />Kích thước:60x80 cm<br />Chất liệu: Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/tonsutrongdao-minhhoangthuphap.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm:Tôn sư trọng đạo<br />Kích thước:50x70 cm<br />Chất liệu:Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/nguthuong-thuphapminhhoang.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm: Ngũ thường như minh nguyệt<br />Kích thước:60x85 cm<br />Chất liệu:Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/thuphapminhhoang-2009-1.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm:Sơn-thủy<br />Kích thước: 79x109 cm<br />Chất liệu Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/minhhoangthuphap-2009.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tác phẩm:Giọt sương ban sớm<br />Kích thước:79x109 cm<br />Chất liệu:Giấy mỹ thuật cao cấp<br /><br /><br /><br /><br />Minh Hoàng<br /><img src="http://forum.thuhoavn.com/style_emoticons/default/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" />]]></description>
		<pubDate>Wed, 18 Nov 2009 22:55:58 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=262</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Triển lãm Thư pháp, chủ đề  "Lời Thầy Cô"]]></title>
		<link>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=261</link>
		<description><![CDATA[<b>Triển lãm Thư pháp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2009,<br />chủ đề: " Lời Thầy Cô"</b><br /><br /><img src="http://i530.photobucket.com/albums/dd349/hoachuviet/tre-1.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Thân mời các bạn đến dự buổi khai mạc triển lãm Thư pháp do CLB Thư Pháp Nét Việt Nhà Văn Hóa Thanh Niên Tp.HCM tổ chức cùng khách mời là CLB Thư pháp Kiến Việt trường Đại học Kiến trúc Tp.HCM. Gần 50 tác phẩm bao gồm những chất liệu khung kiếng, mành tre, liễn trục bồi truyền thống, gỗ,... với nội dung là những lời yêu thương, điều răn dạy trong cuộc sống, lòng tri ân thầy cô.<br /><b>Thời gian: 9h00, thứ 07, ngày 14/11/2009<br />Địa điểm: tiền sảnh Nhà Văn Hóa Thanh Niên, số 04 Phạm Ngọc Thạch, Q.1<br /><br /><br /><br />Trân trọng kính mời</b>]]></description>
		<pubDate>Thu, 12 Nov 2009 12:35:09 -0600</pubDate>
		<guid>http://forum.thuhoavn.com/index.php?showtopic=261</guid>
	</item>
</channel>
</rss>